chương 1. CSDL được thiết kế theo một mô hình tốt, phải khắc phục được các khuyết điểm đã nêu ở phân trên và đáp ứng được các yêu cầu đặt ra của một hệ thông thông tin: - Dam bảo đữ liệu được truy xuất từ nhiều cách khác nhau: nhà quản trị, lập trình viên, người sử dụng cuối. - _ Giao tiếp tốt với các ngôn ngữ lập trình. - _ Khả năng thích ứng với môi trường cho phép nhiều người sử dụng.
- _ Cơ chế áp đặt chủ quyền trên dữ liệu và bảo mật thông tin. - - Xử lý tranh chấp. - Dam bao dữ liệu khi có sự có.3 Vai trò của cơ sở đữ liệu hiện đại đối với hệ thông thông tin quản lý Trong kỷ nguyên bùng nỗ công nghệ thông tin ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phương khai thác thông tin toàn câu, như truyền hình, Internet,. việc quản lý và khai thác thông tin là hoạt động nghiệp vụ quan trọng, đóng vai trò quyết định đối với mọi đơn vị, tổ chức, và đặc biệt là các doanh nghiệp, không chỉ là thông tin liên quan trực tiếp đến các hoạt động nghiệp vụ, mà còn là thông tin liên quan đến toàn bộ lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động.
Trang 18 Hệ thống quản lý lớp học tiếng Đức Nhã Vy - Nhu Y Đứng trên góc độ nhà quản lý, toàn bộ doanh nghiệp có thê được phân thành ba hệ thống: hệ tác nghiệp, hệ thông tin, và hệ (hỗ trợ) ra quyết định. Trong đó, hệ tác Hệ hỗ trợ ra quyết định Dữ liệu Thu tha ap | Hé â théng thối théng tin | Hệ thống tác nghiệp ` Hanh 2.8 Vai trò của cơ sở dữ liệu „ nghiệp bao gôm các bộ phận, phòng ban, don vị trực thuộc tham gia trực tiếp vào các hoạt động nghiệp vụ diễn ra hàng ngày của doanh nghiệp; hệ ra quyết định bao gồm các cấp lãnh đạo (CEO — Chief Executive Officer), đóng vai trò tô chức, lãnh đạo, đưa ra các quyết định quan trọng trong việc điều khiển các hoạt động mang tính chiến lược: và hệ thông tin đóng vai trò tô chức quản lý và phục vụ truyền tải, khai thác thông tin cho các hệ còn lại. Đối với hệ tác nghiệp, nhu cầu được cung cấp và khai thác thông tin thường Ax gom: - Tim kiém, tinh toan trén số liệu - Phan tich số liệu dé lập danh sach bao cao, bang biéu thống kê. Đối với hệ ra quyết định, nhu cầu khai thác thông tin được thể hiện ở mức cao hơn và tổng quát hơn (thường mang tính thông kê dự báo) : - - Phân tích số liệu để kiểm định, đánh giá về tính hiệu quá, hay độ tin cậy của một nhận định then chốt trước khi đưa ra quyết định.
Trang I9 Hệ thống quản lý lớp học tiếng Đức Nhã Vy - Nhu Y - _ Khảo sát trên lượng thông tin, dữ liệu lớn hay cực lớn để khám phá, tìm ra các nhận định mới, mà trước đây, nhà lãnh đạo doanh nghiệp không hoặc không thê nghĩ đến. Thành phân chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống thông tin là một hệ cơ sở dữ liệu hợp nhất, quản lý toàn bộ dữ liệu, thông tin của toàn bộ hệ thống. Việc quản lý tốt, cụ thê là tô chức lưu trữ tốt, sẽ tạo thuận lợi cho quá trình khai thác diễn ra nhanh chóng và chính xác. Vai trò và ưu điểm của Hệ quản trị cơ sở dữ liệu Hệ quản trị CSDL (Database Management System L] DBMS) là một phần mềm máy tính, cho phép tạo ra và quản trị các CSDL.
Các hệ quản trị CSDL đầu tiên ra đời vào đầu những năm 60 của thế kỷ 20 dựa trên mô hình dữ liệu phân cấp và mạng, như hệ quản trị [MS của hãng IBM dựa trên mô hình dữ liệu phân cấp. Năm 1976, hệ quản trị CSDL đầu tiên dựa trên mô hình đữ liệu quan hệ của hang IBM mang tên System-R ra đời. Từ năm 1980 hãng IBMl phát triển hệ quản trị CSDL trên các hệ máy mainữame mang tên DB2, tiếp theo là các hệ quản trị CSDL DBase, Sybase, Oracle, Informix, SQL Server. Từ những năm 1990 người ta bắt đầu cố gắng xây dựng các hệ quản trị CSDL hướng đối tượng nhu Orion, Illustra, Itasca,.
Tuy nhién hau hét cac hé nay déu van la quan hệ - hướng đối tượng, nghĩa là, xét về bản chất, chúng vẫn dựa trên nền tảng của mô hình quan hệ. Hệ quản trị CSDL hướng đổi tượng thuần nhất là hệ ODMG ra đời vào năm 1996, và vẫn còn được phát triển đến nay. Bên cạnh vai trò tao va quan frị các CSDL, một hệ quản trị CSDL còn phải giải quyết các vân đề: Trang 20 Hệ thống quản lý lớp học tiếng Đức Nhã Vy - Nhu Y - Cung cấp phương cách giao tiếp giữa người sử dụng và CSDL, cho phép người sử dụng định nghĩa CSDL và thực hiện các thao tác truy nhập, truy vấn trên dữ liệu. Phương cách giao tiếp có thể thông qua các màn hình hướng dẫn (wizard) hay bằng ngôn ngữ giao tiếp có cầu trúc.
- Cho phép người sử dụng áp đặt cơ chế phân quyền, bảo mật và giới hạn khai thác trên dữ liệu thuộc chủ quyền cua minh. - C6coché giải quyết các vấn đề chia sẻ, tranh chấp trên dữ liệu, khi CSDL có nhiều người sử dụng truy cập đồng thời. - Cung cấp các giải pháp sao lưu dự phòng và phục hồi CSDL, đặc biệt khi CÓ xảy Ta Sự cô. - Khả năng đáp ứng về mặt tốc độ và cơ chế quản lý khi CSDL phát triển nhanh về quy mô dữ liệu cũng như cấu trúc.7 An ninh hệ thống thông tin 2.1 Nội dung của an toàn và bảo mật thông tin Khi nhu cầu trao đổi thông tin dữ liệu ngày càng lớn và đa dạng, các tiễn bộ về điện tử - viễn thông và công nghệ thông tin không ngừng được phát triển ứng dung dé nâng cao chất lượng và lưu lượng truyền tin thì các quan niệm ý tưởng và biện pháp bảo vệ thông tin dữ liệu cũng được đổi mới.
Bảo vệ an toàn thông tin dữ liệu là một chủ đề rộng, có liên quan đến nhiều lĩnh vực và trong thực tế có thể có rất nhiều phương pháp được thực hiện dé bao vé an toàn thông tin dữ liệu. Các phương pháp bảo vệ an toàn thông tin dữ liệu có thê được quy tụ vào ba nhóm sau: - _ Bảo vệ an toàn thông tin bằng các biện pháp hành chính. -_ Bảo vệ an toàn thông tin bằng các biện pháp kỹ thuật (phần cứng). -_ Bảo vệ an toàn thông tin bằng các biện pháp thuật toán (phần mềm).
Ba nhóm trên có thê được ứng dụng riêng rẽ hoặc phối kết hợp. Môi trường khó bảo vệ an toàn thông tin nhất và cũng là môi trường đối phương dễ xân nhập nhất đó là Trang 21 Hệ thống quản lý lớp học tiếng Đức Nhã Vy - Nhu Y môi trường mạng và truyền tin. Biện pháp hiệu quả nhất và kinh tế nhất hiện nay trên mạng truyền tin và mạng máy tính là biện pháp thuật toán. An toàn thông tin bao gồm các nội dung sau: - Tinh bi mat: tinh kin dao néng tu cua thông tin - Tinh xac thyc cua théng tin, bao gém xác thực đổi tác( bài toán nhận danh), xác thực thông tin trao đổi.
- _ Tính trách nhiệm: đảm bảo người gửi thông tin không thể thoái thác trách nhiệm về thông tin mà mình đã gửi. Để đám bảo an toàn thông tin dữ liệu trên đường truyền tin và trên mạng máy tính có hiệu quả thì điều trước tiên là phải lường trước hoặc dự đoán trước các khả năng không an toàn, khả năng xâm phạm, các sự cô rủi ro có thể xảy ra đối với thông tin đữ liệu được lưu trữ và trao đối trên đường truyền tin cũng như trên mạng. Xác định càng chính xác các nguy cơ nói trên thì cảng quyết định được tốt các giải pháp đề giảm thiểu các thiệt hại. Có hai loại hành v1 xâm phạm thông tin dữ liệu đó là: vĩ phạm chủ động và vì phạm thụ động.
Vi phạm thụ động chỉ nhằm mục đích cuối cùng là nắm bắt được thông tin (đánh cắp thông tin). Việc làm đó có khi không biết được nội dung cụ thê nhưng có thể dò ra được người gửi, người nhận nhờ thông tin điều khiển giao thức chứa trong phan dau cac gói tin. Kẻ xâm nhập có thể kiểm tra được số lượng, độ dài và tần số trao đổi. Vì vậy vi pham thụ động không làm sai lệch hoặc hủy hoại nội dung thông tin dtr liệu được trao đối.
Vĩ phạm thụ động thường khó phát hiện nhưng có thể có những biện pháp ngăn chặn hiệu quả. Vi phạm chủ động là dạng vi phạm có thể làm thay đôi nội dung, xóa bỏ, làm trễ, xắp xếp lại thứ tự hoặc làm lặp lại gói tin tại thời điểm đó hoặc sau đó một thời gian. VI phạm chủ động có thê thêm vào một số thông tin ngoại lai dé làm sai lệch nội dung thông tin trao đổi. Vi phạm chủ động dễ phát hiện nhưng để ngăn chặn hiệu quả thì khó khăn hơn nhiều.
Trang 22 Hệ thống quản lý lớp học tiếng Đức Nhã Vy - Nhu Y Một thực tế là không có một biện pháp bảo vệ an toàn thông tin dữ liệu nào là an toàn tuyệt đôi. Một hệ thông dù được bảo vệ chắc chắn đến đâu cũng không thê đảm bảo là an toàn tuyệt đối.2 Cac chiến lượt an toàn hệ thong a. Gidi hạn quyên hạn tối thiểu (Last Privilege) b. Bao vé theo chiéu séu (Defence In Depth) c.
Diém néi yéu nhat (Weakest Link) e. Tinh toan cuc f. Tinh da dang bao vé 2. Các mức bảo vệ trên mang Vì không thể có một giải pháp an toàn tuyệt đối nên người ta thường phải sử dụng đồng thời nhiều mức bảo vệ khác nhau tạo thành nhiều hàng rào chắn đối với các hoạt động xâm phạm.
Việc bảo vệ thông tin trên mạng chủ yếu là bảo vệ thông tin cất giữ trong máy tính, đặc biệt là các server trên mạng. Bởi thế ngoài một số biện pháp nhằm chồng thất thoát thông tin trên đường truyền mọi cô gắng tập trung vào việc xây dựng các mức rào chắn từ ngoài vào trong cho các hệ thống kết nối vào mạng. Thông thường bao gôm các mức bảo vệ sau: L] Quyền truy nhập Lớp bảo vệ trong cùng là quyền truy nhập nhằm kiểm soát các tài nguyên của mạng và quyên hạn trên tài nguyên đó. Dĩ nhiên là kiểm soát được các cầu trúc đữ liệu càng chỉ tiết càng tốt.
Hiện tại việc kiểm soát thường ở mức tệp.