chương 1. Chương 4 trình bày việc hiện thực các thiết kế từ chương 3, hiện thực các giải thuật, giới thiệu giao diện ứng dụng. Cuối chương là phần đánh giá chi tiết về hệ thống được phát triển trong khóa luận. Cuối cùng, các tác giả tổng kết đề tài trong chương 5, nêu lên ý nghĩa của đề tài và đưa ra hướng phát triển tiếp theo.
Nguyễn Anh Tuấn SVTH: Nguyễn Thành Vinh - Lê Văn Thương CHƯƠNG 2. KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ CÁC KIẾN THỨC LIÊN QUAN 6 Chương 2: Khảo sát hiện trạng và các kiến thức liên quan 2.1 An toàn thông tin trên điện thoại di động Theo báo cáo của Liên minh Viễn thông Quốc tế, đến cuối năm 2011 thế giới có khoảng 6 tỷ thuê bao di động, tương đương với 87% dân số thế giới [17]. Một nghiên cứu của Portio Research dự đoán thuê bao di động sẽ đạt 6.5 tỷ vào cuối năm 2012, 6.9 tỷ cuối năm 2013 và 8 tỷ cuối năm 2016 [20]. IDC (2/2012) cho biết toàn thế giới đã có 1 tỷ 546 triệu điện thoại di động được bán ra trong năm 2011, tăng 11.1% so với năm 2010, trong đó điện thoại thông minh chiếm tỉ lệ 31.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và sự ra đời hàng loạt sản phẩm, điện thoại di động ngày càng lưu trữ một khối lượng dữ liệu đồ sộ và không ngừng sản sinh thêm. Thật vậy, chỉ tính trong năm 2011, 7.8 nghìn tỷ tin nhắn SMS đã được gửi đi. Con số này trong năm 2012 đạt 9,6 nghìn tỷ tin nhắn SMS. Đến năm 2013, doanh thu SMS toàn cầu được dự báo lần đầu tiên đạt trên 150 tỷ USD và sẽ tiếp tục tăng trong hai năm tới.
Cũng trong năm 2011, toàn cầu có 669.5 triệu người sử dụng email trên thiết bị di động, kỳ vọng tăng trưởng đến 2.4 tỷ người đến năm 2016. Năm 2011 cũng chứng kiến 207 triệu tin nhắn MMS được gửi đi, kỳ vọng đạt được 276.8 triệu tin nhắn MMS đến năm 2016.3 triệu người trên toàn thế giới đã sử dụng thiết bị di động để thực hiện các thanh toán, đạt khối lượng 68. Con số này tiếp tục tăng nhanh đạt 490 triệu người trong năm 2014, nâng tổng khối lượng thanh toán lên 633. Một khảo sát khác cho biết: 81% điện thoại di động được sử dụng để duyệt web, 77% sử dụng để tìm kiếm, sinh ra 425 triệu người dùng Facebook thường xuyên (tháng 12-2011), 200 triệu video YouTube được phát hàng ngày [13].
Dữ liệu trên điện thoại di động được lưu trữ trong một hình thức tập trung cao độ và di động [12]. Do đó, chúng thu hút các tội phạm nói chung và tội GVHD: TS. Nguyễn Anh Tuấn SVTH: Nguyễn Thành Vinh - Lê Văn Thương CHƯƠNG 2. KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ CÁC KIẾN THỨC LIÊN QUAN 7 phạm mạng.
Điện thoại di động trở thành mục tiêu tấn công chủ yếu, cung cấp hàng triệu các mục tiêu tiềm năng. Chúng cũng có rất nhiều lỗ hổng. Các nhà sản xuất thường không cài sẵn phần mềm bảo mật trên thiết bị của mình [14]. Thêm nữa, vì nhỏ gọn và giá rẻ, điện thoại di động không những dễ mất và tương đối dễ bị trộm cắp mà còn có vòng đời sử dụng tương đối ngắn trước khi người sử dụng mong muốn một thiết bị mới hơn.
Tất cả những trường hợp này dẫn đến nguy cơ mất an toàn thông tin nghiêm trọng trên điện thoại di động. Nếu thông tin nhạy cảm bị khai thác, tội phạm có thể xác định được cụ thể đối tượng mà chúng đang lợi dụng, mục tiêu tấn công và thậm chí cả cơ hội thành công khi tấn công [12]. Trong một khảo sát, 36% người sử dụng điện thoại đã từng có một thiết bị bị mất. Tại Mỹ, 113 điện thoại bị mất mỗi phút [21].
Tại Vương quốc Anh, nạn trộm cắp điện thoại gây thiệt hại 390 triệu bảng mỗi năm với hơn 2 triệu thiết bị bị đánh cắp, tương đương với 229 thiết bị trong một giờ [8]. Những sự thật này cho thấy rằng bảo mật thiết bị di động là một mối quan tâm hàng đầu hiện nay. Hiểu được những nguy cơ và các kịch bản rủi ro khác nhau cho phép các nhà phát triển ứng dụng có thể thiết kế hệ thống quản lý bảo mật thích hợp để giảm thiểu rủi ro. Trong các phần tiếp theo, khóa luận sẽ thực hiện nghiên cứu các kịch bản rủi ro và nghiên cứu các giải pháp để xây dựng hệ thống quản lý bảo mật trên điện thoại thông minh.2 Kịch bản rủi ro Trong phần này khóa luận đề cập đến một số trường hợp xảy ra trong thực tế về mất mát dữ liệu trên điện thoại thông minh và những hậu quả của nó.
Qua đó cho thấy sự cấp thiết phải xây dựng một hệ thống quản lý bảo mật để bảo vệ dữ liệu, thiết bị của người dùng. • Kịch bản 1: Minh đang trên đường đến trường. Trong túi sách của Minh có chiếc điện thoại di động mà mẹ cậu đưa để gọi trong các trường hợp cần thiết. Giữa đường, Minh bị một nhóm thanh niên chặn đường và cướp mất túi sách của mình.
Chuyện mất điện thoại chỉ là một vấn đề đơn giản. Minh đã mua một chiếc điện thoại, một thẻ SIM khác và không quan tâm về sự cố này. Tuy nhiên, một thời gian sau đó Minh nhận được một số thông tin từ bạn GVHD: TS. Nguyễn Anh Tuấn SVTH: Nguyễn Thành Vinh - Lê Văn Thương CHƯƠNG 2.
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ CÁC KIẾN THỨC LIÊN QUAN 8 bè và người thân của cậu rằng ai đó đã mạo danh cậu để vay mượn tiền bạc từ họ bằng số thuê bao đã mất trước đó. • Kịch bản 2: Khánh là một nhân viên phụ trách mảng marketing của một công ty quảng cáo lớn. Anh được công ty cấp cho điện thoại di động để phục vụ công việc. Điện thoại của anh lưu trữ các thông tin về khách hàng, các giao dịch, email, các trao đổi cá nhân.
Trong một lần đi tham dự hội thảo, anh bị ai đó lấy trộm điện thoại của mình. Sau sự việc này, tất cả thông tin về khách hàng và kế hoạch, chiến lược của công ty anh lọt vào tay đối thủ. Giám đốc công ty đã rất tức giận và sa thải Khánh. • Kịch bản 3: Vy là một nhân viên văn phòng làm việc tại một công ty xuất nhập khẩu.
Công việc bận rộn, giao tiếp khách hàng thường xuyên nên Vy để điện thoại di động trên bàn làm việc cho tiện. Rời phòng làm việc vì có công việc đột xuất, Vy đã để quên điện thoại trong phòng cho tới ngày hôm sau. Mọi chuyện bắt đầu khi mọi người trong công ty bàn tán về chuyện đời tư của Vy. Sự thật là một đồng nghiệp đã đọc lén các tin nhắn và hình ảnh riêng tư của Vy trên chiếc điện thoại để quên ngày hôm đó và phát tán chúng.
Các câu chuyện trên chỉ là một phần rất nhỏ trong các tình huống thực tế. Tuy vậy nó đã khẳng định việc mất mát dữ liệu có thể xảy ra ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào trong khi hậu quả không thể lường trước được. Nếu các kịch bản này diễn ra theo hướng của kịch bản trong phần 1.3; khi mà các thiết bị được cài đặt phần mềm quản lý bảo mật thì rõ ràng mức độ ảnh hưởng đã được giảm hẳn. Điều đó cho thấy, việc xây dựng và phát triển hệ thống quản lý bảo mật là một vấn đề quan trọng cần phải nghiên cứu cẩn thận.
Trong phần tiếp theo, khóa luận sẽ đưa ra các luận cứ về đặc tính của một thiết bị an toàn và yêu cầu cần thiết khi phát triển hệ thống quản lý bảo mật nhằm đảm bảo một thiết bị được an toàn.3 Đặc điểm của một thiết bị an toàn Theo Clarke et al. [4], các hành vi trộm cắp xuất phát từ bản chất của hàng hóa. Đề tài này đã thúc đẩy nhiều công trình nghiên cứu nhằm đưa ra các đặc tính chung của các sản phẩm hấp dẫn tội phạm (HOT products). Theo Cohen GVHD: TS.
Nguyễn Anh Tuấn SVTH: Nguyễn Thành Vinh - Lê Văn Thương CHƯƠNG 2. KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ CÁC KIẾN THỨC LIÊN QUAN 9 and Felson [5] các đặc tính đó là tính giá trị, tính hấp dẫn, có thể nhìn thấy được và dễ bị tổn thương mà tác giả gói gọn trong từ viết tắt VIVA (Value, Inertia, Visibility, Accessibility). Năm 1999, Clarke et al. Mỗi đặc tính là một thành phần quan trọng giải thích vì sao các sản phẩm hấp dẫn tội phạm.
Các đặc tính này hiển nhiên và không thể thay đổi được. Vấn đề là làm cách nào để chúng ta có thể thiết kế một sản phẩm an toàn hơn kể cả khi chúng mang những đặc tính như vậy? Các tác giả Whitehead, Mailley, Storer, McCardle, Torrens, and Farrell trong bài viết "IN SAFE HANDS: A Review of Mobile Phone Anti-theft Designs" đã đề xuất thiết kế sản phẩm an toàn nên bao gồm một hoặc hơn một tập hợp các đặc tính, mà tác giả gọi là IN SAFE HANDS (Identifiable, Neutral, Seen, Attached, Findable, Executable, Hidden, Automatic, Necessary, Detectable, Se- cure). Chi tiết về các đặc tính này được thể hiện chi tiết ở bảng 2. Đặc tính Mô tả chi tiết Identifiable Thiết bị phải có thể xác định được bởi chủ sở hữu.
Các tính năng bảo vệ thiết bị không nên gây ảnh hưởng đến trải nghiệm của người dùng. Các tính năng này không Neutral nên làm cho thiết bị khó khăn hơn trong việc xử lý và thực hiện các tính năng vốn có của mình. Seen Thiết bị phải trong tầm kiểm soát (tầm nhìn) và có báo động để tăng tính răn đe tội phạm. Một sản phẩm an toàn nên có tính cố định; được cố định ở một vị trí hoặc gắn trên cơ thể người sử dụng.
Các túi Attached bảo vệ thiết bị đeo trên người là một minh chứng cho đặc tính này. Findable Nếu bị mất hoặc bị trộm cắp, thiết bị có thể theo dõi và được tìm thấy. Thiết bị di động có thể được vô hiệu hóa nếu chúng bị mất hoặc bị trộm cắp. Ngoài ra thiết bị nên được điều Executable khiển từ xa thực hiện một số yêu cầu khác nhau.
Hidden Một sản phẩm nên được ẩn đối với người dùng. Nguyễn Anh Tuấn SVTH: Nguyễn Thành Vinh - Lê Văn Thương CHƯƠNG 2. KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ CÁC KIẾN THỨC LIÊN QUAN 10 Thiết bị sẽ được bảo vệ tốt hơn với những ứng dụng bảo mật tự động. Trong số đó, thẻ SIM cũng được tự động Automatic bảo vệ bởi mã PIN, nhưng hiếm khi được sử dụng trên điện thoại di động.
Thiếu tự động hóa cho phép người phạm tội để tận dụng lợi thế bởi sự thờ ơ về bảo mật của một bộ phận người dùng.