Chương 1: Tổng quan về hệ thống stream video qua P2P. Chương này trình bày khái quát về P2P gồm khái niệm, phân loại và các ưu khuyết điểm của nó. Những thách thức trong P2P streaming. Phân loại các hệ thống phát trực tuyến P2P.
Tổng quan về WebRTC, về cách hoạt động, lợi ích, các APIs, các giao thức của WebRTC. Chương 2: Kiến trúc nền tảng Livestream P2P và các giao thức, thuật toán được sử dụng. Chương 3: Ứng dụng WebRTC cho giải pháp xây dựng hệ thống livestream p2p. Trong chương này trình bay cách ứng dụng các thuật toán, giao thức đã tìm hiểu ở chương | và chương 2 dé thiết kế, xây dựng nén tảng Livestream P2P có độ trễ thấp hiệu quả cao với chỉ phí thấp.
Chương 4: Trình bày cách thức thử nghiệm và đánh giá hệ thống để chứng minh tính hiệu qua của nền tảng Livestream P2P. 2 Chương 5: Kết luận chung. Chương này trình bày các hạn chế của nền tảng Livestream P2P, những đóng góp của luận văn và đặt ra hướng cần phát triển tiếp theo đề nền tảng hoản chỉnh nhất có thể.1 Hệ thống stream video qua P2P 1.1 Hạn chế của kỹ thuật streaming truyền thống Với sự xuất hiện của các ứng dụng và dịch vụ như truyền phát media qua Internet, mô hình Client - Server được sử dụng. Kỹ thuật streaming truyền thống dựa trên hệ thống Client - Server nếu số lượng khách hàng được giới hạn sẽ có tỷ lệ sẵn sang cao, hiệu suất tốt.
Nhưng bù lại, tốc độ và độ tin cậy là vấn đề được quan tâm bởi người dùng, việc triển khai và phí duy trì của các hệ thống này thường rất cao. Trong mô hình Client - Server, Client đã gửi yêu cầu đến Server video, nếu video được yêu cầu có sẵn trong máy chủ video, thì sẽ được truyền trực tuyến đến máy khách được yêu cầu. Một trong số mô hình dịch vụ khách hàng phô biến là truyền phát video CDN (Mạng phân phối nội dung). Trong cách tiếp cận CDN, một bộ máy chủ CDN được đặt trên mạng thay vì tải xuống video từ máy chủ đa phương tiện chính, một máy khách thường được hướng dẫn dé tải xuống video từ máy chủ gần đó (proxy).
CDN thường giảm độ trễ khi khởi động và cũng giảm lưu lượng truy cập qua mạng. Thách thức lớn đối với truyền phát video dựa trên server yêu cầu khả năng mở rộng. Chất lượng luồng video tốt yêu cầu băng thông cao. Vấn đề chính trong máy chủ video đó là cách tiếp cận CDN, khi lượng máy client nhiều lên thì băng thông phải tăng theo tỷ lệ.
Bằng cách chia sẻ tải giữa các vị trí khác nhau gần người dùng hơn, CDN có khả năng cung cấp nội dung kịp thời cho người dùng. Sao chép nội dung tăng cường độ mạnh mẽ dé CDN có thể duy trì địch vụ đáng tin cậy nếu tình huồng lỗi. Điều này làm cho giải pháp truyền phát video dựa trên máy chủ trở nên đắt đỏ hơn. Dé khắc phục các vấn dé về cách tiếp cận CDN, mạng ngang hang đã nỗi lên như một mô hình mới và trở nên rat thành công trong việc phân phối nội dung, đồng thời khuyến khích người dùng trở thành cả máy khách và máy chủ thường được gọi là ngang hàng.
Trong P2P, một máy ngang hàng không những tải xuống dữ liệu từ mạng mà còn tải dữ liệu đã tải xuống cho những máy khác trong mạng. Băng thông tải lên của máy khách được dùng hiệu quả để giảm tải cho máy chủ. Không giống như hệ thống Client - Server, P2P gồm những máy được connect với nhau và tự tổ 25 chức thành các cấu trúc liên kết mang dé share tài nguyên như dữ liệu, băng thông, sức mạnh CPU và bộ đệm.2 Peer-to-Peer 1.1 Khái niệm Hệ thống P2P được định nghĩa là "một hệ thống tự tổ chức gồm các thực thể bình đẳng, tự trị (ngang hàng) nhằm sử dụng tài nguyên phân tán trong môi trường nối mạng chung tránh các dịch vụ trung tâm". Các nút trong mạng P2P thường đóng vai trò ngang nhau, vì vậy các nút này còn được gọi là các nút ngang hàng.
Trong chương này, thuật ngữ "peer" và "node" dùng thay thế nhau trong mạng P2P. Các peer hợp tác một cách phân tán để có được mục đích mong đợi. Các đặc điểm quan trọng nhất của công nghệ P2P là tương tác trực tiếp và trao đổi dữ liệu ngang hàng với nhau chứ không qua một server trung tâm. Đây là cơ sở cho điện toán phân tán phi tập trung.
Mạng P2P tự tô chức và thích ứng. Các peer có thé đến và đi tự do. Các hệ thống P2P tự động xử lý các sự kiện này [16].2 Ưu điểm của P2P Một trong những tính năng chính trong hệ thống P2P là mỗi nút đóng góp tài nguyên gồm dung lượng lưu trữ, băng thông và sức mạnh CPU, và do đó, toàn bộ dung lượng hệ thống trên thực tế có thể tăng lên khi có nhiều nút hơn tham gia vào mạng. Ngược lại với kiến trúc máy khách và máy chủ, trong đó việc bỗ sung máy khách luôn làm giảm hiệu suất tông thé.
Hữu ích khác P2P đem lại là tính bền vững trong trường hợp lỗi vì mỗi nút không dựa vào bất kỳ máy chủ tập trung nào để truy xuất nội dung. Trong hệ thống P2P, các nút tham gia đánh dấu ít nhất một phần tài nguyên của họ là "được chia sẻ", cho phép các peer đóng góp khác truy cập các tài nguyên này. Do đó, nếu nút A xuất bản một cái gì đó và nút B tải xuống nó, thì khi nút C yêu cầu cùng một thông tin, nó có thé truy cập thông tin đó từ nút A hoặc nút B. Kết quả là, khi người mới access vô một file xác định, khả năng của hệ thống để cung cấp tệp đó tăng lên [17].
Mạng P2P có triển vọng giảm độ trễ do người dùng cảm nhận bằng cách đây dữ liệu và tính toán đến một vị trí gần người dùng hơn.3 Phân loại P2P 26 Các hệ thống P2P gồm loại tập trung (centralized), phi tập trung có cấu trúc (decentralized structured) va phi tập trung không cấu trúc (decentralized unstructured). Ban đầu, một hệ thống P2P bắt đầu với một hệ thống chỉ mục tập trung nơi các vị trí tệp được lập chỉ mục trong một số máy chủ được chọn để tìm kiếm nhanh chóng. Trong mô hình tập trung, chăng hạn như Napster [18], các máy chủ chi mục trung tâm được sử dụng dé duy tri một thu mục chứa các tập tin được share va lưu trữ trên các máy ngang hàng với ý định rằng một máy ngang hàng có thể tìm vị trí của nội dung mong muốn từ một “index server”. Ngược lại, thiết kế này tạo ra lỗi tại một điểm duy nhất và bản chất dịch vụ tập trung của nó tạo ra các hệ thống dé bị tấn công DoS và DDoS.
Server trung gian tồn tại đã đưa ra nhiều van đề pháp lý như phương pháp chỉ mục tập trung đã được thay thé bằng hệ thống chỉ mục phi tập trung. Sau đó, các hệ thống P2P đã trở nên hoàn toàn phi tập trung trong mọi chức năng của chúng. Ưu điểm của các hệ thống P2P phi tập trung là loại bỏ lệ thuộc vào các máy chủ trung tâm và cung cấp sự tự do cho những người dùng tham gia trao đổi dịch vụ và thông tin trực tiếp cùng nhau. P2P phi tập trung được phân loại thành hai hệ thống chính: có cầu trúc và không có cấu trúc.
Trong các hệ thống P2P phi tập trung phi cấu trúc, ching hạn như Gnutella, không có chỉ mục tập trung cũng như bat cứ kiểm soát chặt chẽ nao với cấu trúc liên kết mạng hoặc vị trí tệp. Nói chung, các peer tự cấu hình thành một mạng lớp phủ mà không có cấu trúc liên kết dự kiến cụ thể nào. Việc phân phối tệp có thê được quản lý theo cách đặc biệt không được thiết kế dé dẫn đến bắt kỳ sự sắp xếp cụ thé nào. Vì các hệ thống này không có khớp nói giữa cấu trúc liên kết mạng và vị trí dữ liệu, nên việc định vị tệp mong muốn không đơn giản.
Các nút tham gia mạng, tuân theo một số quy tắc lỏng lẻo, tạo thành mạng. Trong các hệ thống này, dữ liệu được lưu ở bất cứ noi nao trong hệ thống và được tìm kiếm bằng cách phát các truy van tới tat cả các peer trong một khoảng cách xác định. Những cách này rất đơn giản và rất mạnh mẽ dé thay đổi cấu trúc liên kết mạng lớp phủ nhưng ngược lại, việc phát sóng không hiệu quả làm tăng nghỉ ngờ khả năng mở rộng của chúng. Trong các mô hình phi tập trung có cấu trúc, chẳng hạn như Chord [17], Pastry [19] và CAN [20], các đặc điểm cấu trúc liên kết và vị tri dữ liệu dùng chung của mạng được kiểm soát mạnh mẽ trên cơ sở các hàm băm.
Chỉ mục được phân 27 phối một cách chính xác trên cấu trúc liên kết mạng lớp phủ. Kết quả là các truy vấn được hướng một cách tài nguyên đến vị trí chỉ mục chính xác, giải quyết khả năng mở rộng của các phương pháp phi cấu trúc. Mặt khác, các lược đồ có cấu trúc có những rắc rối của riêng chúng: độ phức tạp, chỉ phí bảo trì cao, cấu trúc cứng nhắc không chịu được lỗi và không có khả năng hỗ trợ truy vấn phạm vi và từ khóa, khá phổ biến trong các ứng dụng P2P. Do những nhược điềm nay, cho đến nay các phương.
pháp có cấu trúc vẫn chưa được triển khai trên bat kỳ quy mô rộng nào. Cho đến gần đây, các hệ thống Internet P2P vẫn giả định rằng tat cả các mang ngang hàng đều giống hệt nhau và thống nhất về tài nguyên. Do đó, chức năng được phân phối mà không xem xét tính không đồng nhất trong thế giới thực của các khả năng ngang hàng. Ví dụ, một số peer có thé có dung lượng 6 cứng nhỏ hon và tốc độ bộ xử lý chậm hơn những peer khác.
Nhưng chúng thực hiện trách nhiệm và vai trò giống như các peer khác với khả năng lớn hơn. Điều này dẫn đến các trường hợp kém hiệu quả và tắc nghẽn trong hoạt động do khả năng rất hạn chế của các peer này. Để giải thích và thậm chí khai thác sự tồn tại của tính không đồng nhất như vậy của các khả năng ngang hàng, khái niệm super-peer, được cung cấp đầy đủ về khả năng tài nguyên, gần đây đã được đưa ra. Một super-peer thường giữ vai trò là một máy chủ quản lý các truy van và phản hồi cho một tập hợp con các peer thông thường [53].