CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG GẠT MƯA 1.1 Lịch sử hình thành hệ thống gạt mưa Sự tồn tại của bất kì hệ thống nào đều có lí do hoặc nguyên lý của nó. Hệ thống gạt nước- rửa kính cũng có lịch sử hình thành và phát triển riêng. Nó được ra đời do những nhu cầu tất yếu của viêc muốn quan sát tầm nhìn tốt hơn mà không phải dừng xe lại để lau chùi bằng tay. Năm 1903, khi đi trong thành phố New York, Mary Anderson (1866 -1953) phát hiện thấy thỉnh thoảng, tài xế lại phải dừng xe, dùng khăn để lau hơi nước và tuyết phủ trên mặt kính.
Quan sát này đã thôi thúc bà phát minh ra chiếc cần gạt nước. Ban đầu nhiều người cho rằng ý tưởng trên là điên rồ và đến năm 1905, Mary Anderson mới nhận được bằng sáng chế của Mỹ.1 Mary Anderson (1866-1953) và sơ đồ hệ thống gạt mưa của bà Nguyên lý hoạt động của cần gạt nước của bà Mary phát minh hết sức đơn giản. Theo đó, hai chiếc cần được gắn vào thân xe, tiếp xúc với mặt kính bằng chiếc lưỡi cao su mỏng. Khi cần làm sạch, tài xế xoay tay nắm đặt trong ca-bin.
Cơ cấu truyền động giúp hai chiếc cần gạt chuyển động lên xuống để gạt tuyết, hơi nước, giúp tầm nhìn rõ hơn. Khi mới ra đời, phát minh này của Mary không được các hãng xe hưởng ứng. Mãi đến 1916, cần gạt nước mới trở thành thiết bị tiêu chuẩn trên tất cả loại xe ở Mỹ. Bên cạnh đó, các nhà sử học tranh luận về việc ai đã phát minh ra chiếc gạt nước kính chắn gió tự động đầu tiên.
Hầu hết các học giả cho rằng chiếc cần gạt nước kính chắn gió tự động đầu tiên, nơi một động cơ cung cấp năng lượng cho cần gạt nước thay vì người lái làm việc đó bằng tay, là Hawaiian Ormand Wall. Các học giả khác cho rằng Cleveland, Ohio, cư 1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP SVTH: TRẦN NGỌC CẨN dân William M. và Fred Folberth, hai anh em, đã phát minh ra gạt nước kính chắn gió tự động. Folberth rõ ràng là những người Mỹ đầu tiên phát triển gạt mưa kính chắn gió tự động.
Cần gạt nước của Folberths được cung cấp năng lượng chân không. Họ sử dụng không khí từ ống góp động cơ để đẩy một cái gạt nước qua kính chắn gió. Khi đến mép cửa sổ, cần gạt nước quay trở lại phía bên kia của cửa sổ. Khi Folberth phát minh ra chiếc cần gạt nước này vào năm 1919, ông đã không nhận được bằng sáng chế cho sản phẩm này cho đến ngày 16 tháng 8 năm 1921.
Trong khi đó, William và Folberth đã bắt đầu sản xuất chiếc cần gạt nước này trong một nhà máy ở Cleveland. Năm 1925, Folberth bán công ty của mình.2 Sơ đồ hệ thống gạt mưa của William và Folberth Cần gạt nước của Folberths nhanh chóng được thay thế. Thật không may, cần gạt nước không đáng tin cậy. Bằng cách sử dụng không khí từ ống góp động cơ, cần gạt nước sẽ giảm tốc độ và tăng tốc khi xe giảm tốc độ hoặc tăng tốc.
Những người lái xe mong muốn có một cần gạt nước phù hợp hơn và trong những năm 1930, những cải tiến đáng kể đã xảy ra đối với cần gạt nước điện, khiến phiên bản của Folberths trở nên lỗi thời. Vào năm 1917, khi mô tơ điện được đưa vào ứng dụng thì cơ cấu chuyển động của cần gạt được cải tiến thêm nhờ phát minh của một nha sĩ Hawaiian Ormand Wall bằng cách dùng mô tơ điện phía trên và nằm chính giữa của kính lái. Do đó, lá cao su sẽ quay theo hình vòng cung với tâm ở phía trên và diện tich kính lái mà nó quét được trông giống như một hình cầu vồng lộn ngược. Bộ rửa kính được bổ sung vào xe hơi với phần điều khiển được thêm ngay vào cần gạt bật/tắt của cái gạt nước.
Bộ phận này sẽ phun tia nước rửa kính lên thẳng phía trước của kính lái thông qua mấy cái lỗ nhỏ nằm trên nắp capo. Một bình chứa nước được đặt trong khoang máy và các cấu thành chạy điện khác được kết nối để thực thi công việc đó. 2 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP SVTH: TRẦN NGỌC CẨN Hình 1.3 Hệ thống gạt mưa kiểu cũ với tâm phía trên Năm 1923, Anderson nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho “rửa kính chắn gió vận hành bằng động cơ - motor operated windshield cleaner”. Cái tên khá cơ bản này ẩn chứa không chỉ một mà là hai phát minh quan trọng: Hình 1.4 Sơ đồ hệ thống gạt mưa của Anderson 3 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP SVTH: TRẦN NGỌC CẨN Một là cần gạt nước kính chắn gió ngắt quãng.
Đây là cần gạt nước hoạt động theo khoảng thời gian thay vì liên tục. Người điều khiển ô tô có thể thiết lập độ dài của khoảng thời gian giữa các lần quét của cần gạt nước. Ưu điểm tuyệt vời của việc này là gạt mưa dành ít thời gian hơn cho cửa sổ, đặc biệt là trong điều kiện mưa vừa, giúp người lái có tầm nhìn tốt hơn và gạt nước ít hao mòn hơn. Hai là động cơ điện.
Như đã mô tả ở trên, các thiết kế trước đây sử dụng động cơ chạy bằng chân không. Ông Anderson tin rằng một động cơ như vậy là quá nặng và thay vào đó, ông đã phát minh ra động cơ điện. Anh ấy dường như cảm thấy khá mạnh mẽ về điều này. Trong đơn xin cấp bằng sáng chế của mình, ông gọi trọng lượng của động cơ chân không là "quá mức".
Động cơ điện được cung cấp bởi pin của ô tô. Pin được đặt ở nơi khác trong xe và được kết nối với pin bằng hệ thống dây điện. Ưu điểm là bản thân bộ phận gạt nước trên cửa sổ nhỏ và nhẹ, đặc biệt là so với hệ thống gạt nước kính chắn gió Folberth, hệ thống có động cơ và nguồn điện trong một hộp trên đỉnh cửa sổ. Sau năm 1922, đã có một thời gian dài phát triển cần gạt nước kính chắn gió tạm lắng.
Các thiết kế hiện tại đã được cập nhật và cải tiến, nhưng không có gì mới thực sự xuất hiện cho đến năm 1964. Trong năm đó, nhà phát minh Robert W. Kearns, sống ở Detroit, Michigan, đã nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho “hệ thống gạt nước kính chắn gió hoạt động gián đoạn”. Như chúng ta đã thấy, cần gạt nước ngắt quãng lần đầu tiên được phát minh bởi Raymond Anderson.
Tuy nhiên, hệ thống của Anderson được vận hành bằng tay; người lái xe phải điều chỉnh khoảng thời gian giữa các lần lau và bật và tắt hệ thống. Kearns đã phát minh ra một hệ thống hoạt động gián đoạn tự động một phần. Người lái xe vẫn phải bật cần gạt nước, nhưng hệ thống có thể tự điều chỉnh các khoảng thời gian và cũng có thể tự tắt. Hệ thống khéo léo đã hoạt động với "cần gạt nước đáp ứng".
Các cảm biến điện tử trong mô tơ gạt nước đã đo lượng lực cản mà các cánh gạt nước gặp phải khi di chuyển trên kính chắn gió. Về cơ bản: ít kéo = ướt. Thêm kéo = khô. Khi lực cản ít hơn, hệ thống sẽ rút ngắn khoảng thời gian.
Khi lực cản trở nên tồi tệ hơn, hệ thống sẽ kéo dài các khoảng thời gian và cuối cùng sẽ tắt. Hơn nữa, Kearns cũng đã phát minh ra hệ thống gạt nước đôi một mô-tơ, trong đó một mô-tơ duy nhất sẽ cung cấp năng lượng cho hai hoặc nhiều hơn, cần gạt nước kính chắn gió. Đây lại là một cải tiến lớn so với Anderson, nơi mỗi cần gạt nước yêu cầu một động cơ riêng biệt. Cuối cùng, hệ thống gạt nước kính chắn gió được đặt ở dưới cùng của kính chắn gió, với một đơn vị động cơ duy nhất (tất cả đều ở mức 34) cung cấp năng lượng cho hai liên kết kết nối lần lượt được kết nối với tay gạt nước và sau đó đến cánh gạt nước.
Hình 2, 3 và 4 là sơ đồ mạch điều khiển cho hệ thống gạt nước gián đoạn, với động cơ gạt nước kính chắn gió luôn ở mức 34. Những chuyến đi của ông Kearns sau khi ông phát minh ra hệ thống gạt nước kính chắn gió của mình là một câu chuyện tự thân: phát minh của ông cho Ford Motor Company, công ty đã từ chối ý tưởng của ông. Tuy nhiên, vào năm 1969, một hệ thống tương tự bất ngờ xuất hiện trên những chiếc xe cao cấp mang nhãn hiệu Mercury. Kearns kiện Ford và cuộc chiến tại tòa sau đó chỉ kết thúc năm 1990, với phần thắng dành cho nhà phát minh.
Cuộc tranh chấp kéo dài giữa một nhà phát minh đơn độc và một tập đoàn khổng lồ đã 4 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP SVTH: TRẦN NGỌC CẨN truyền cảm hứng cho bộ phim Flash of Genius năm 2009, bộ phim phải xem cho tất cả những ai quan tâm đến ngành kinh doanh cần gạt nước. Kearns (10/3/1927 – 9/2/2005) và sơ đồ hệ thống gạt mưa của ông 1.2 Ý nghĩa của hệ thống gạt mưa Gạt mưa là bộ phận nhỏ nhưng lại hết sức quan trọng đối với xe hơi. Nó có nhiệm vụ loại bỏ nước và bụi bẩn ra khỏi kính chắn gió, giúp người lái có một tầm nhìn tốt hơn khi điều khiển xe. Ngày nay, gạt nước được xem như một tiêu chuẩn không chỉ trên trên tất cả những chiếc xe hơi mà còn được trang bị cho xe lửa, tàu biển và cả máy bay nữa.6 Gạt mưa trên tàu hỏa 5 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP SVTH: TRẦN NGỌC CẨN Hình 1.7 Gạt mưa trên máy bay 1.3 Nhiệm vụ, yêu cầu, phân loại, cấu tạo và nguyên lý hoạt động của hệ thống 1.1 Nhiệm vụ của hệ thống gạt mưa Hình 1.8 Gạt mưa ô tô 6 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP SVTH: TRẦN NGỌC CẨN Hệ thống gạt nước trên ô tô là một hệ thống đảm bảo cho người lái nhìn được rõ ràng bằng cách gạt nước mưa trên kính trước và kính sau khi trời mưa.
Hệ thống có thể làm sạch bụi bẩn trên kính chắn gió phía trước nhờ thiết bị rửa kính. Vì vậy đây là thiết bị cần thiết cho sự an toàn của xe khi tham gia giao thông.2 Yêu cầu của hệ thống gạt mưa Hệ thống gạt nước và rửa kính là một hệ thống đảm bảo cho người lái nhìn được rõ ràng bằng cách gạt nước mưa trên kính trước và kính sau khi trời mưa. Hệ thống có thể làm sạch bụi bẩn trên kính chắn gió phía trước nhờ thiết bị rửa kính. Vì vậy đây là thiết bị cần thiết cho sự an toàn của xe khi chạy.
Gần đây một số kiểu xe có thể thay đổi tốc độ gạt nước theo tốc độ xe và tự động gạt nước khi trời mưa.