CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về đánh giá trong dạy học 1. Khái niệm đánh giá Theo bảng thuật ngữ đối chiếu Anh - Việt: “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [6, tr. Theo tác giả, đánh giá bao gồm một hệ thống các hoạt động nhằm thu thập số liệu, sản phẩm, báo cáo có giá trị thực về sự hiểu biết và nắm vững những mục tiêu đã đề ra.
Trong dạy học, quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu trong quá trình dạy học. Như vậy, trong dạy học đánh giá là một quá trình được tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt được của học sinh về mục tiêu đào tạo. Nó có thể bao gồm những sự mô tả, liệt kê về mặt định tính hay định lượng những hành vi (kiến thức, kỹ năng, thái độ) của người học, đối chiếu với những tiêu chí của mục đích dự kiến mong muốn, nhằm có những quyết định thích hợp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học. Mục đích của đánh giá Theo tài liệu [7, tr.322 - 323], trong dạy học việc đánh giá học sinh nhằm các mục tiêu sau: * Đối với học sinh Việc kiểm tra và đánh giá có hệ thống, thường xuyên sẽ kích thích hoạt động học tập, cung cấp cho họ những thông tin phản hồi về quá trình học tập, khuyến khích năng lực tự đánh giá.
Về tri thức và kỹ năng, việc đánh giá chỉ cho mỗi học sinh thấy mình đã lĩnh hội những kiến thức vừa được học đến mức độ nào, còn những sai sót, lỗ hổng nào cần phải bổ khuyết… 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việc đánh giá, nếu được khai thác tốt sẽ kích thích học tập không những về mặt lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng mà còn cả về mặt phát triển năng lực trí tuệ, tư duy sáng tạo và trí thông minh. Về mặt giáo dục, việc kiểm tra, đánh giá nếu được tổ chức và tiến hành nghiêm túc sẽ giúp học sinh nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, ý chí vươn lên đạt những kết quả học tập cao hơn, củng cố lòng tự tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan, tự mãn và đặc biệt là phát triển năng lực tự đánh giá, một năng lực quan trọng đối với việc học tập của học sinh. * Đối với giáo viên Việc đánh giá học sinh cung cấp những thông tin cần thiết, giúp người dạy xác định đúng điểm xuất phát hoặc điểm kế tiếp của quá trình dạy học, phân nhóm học sinh, chỉ đạo cá biệt và kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học. Kiểm tra, đánh giá tạo cơ hội cho giáo viên xem xét hiệu quả của những cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà mình đang thực hiện.
* Đối với cán bộ quản lý giáo dục Việc đánh giá học sinh cung cấp những thông tin cơ bản về thực trạng dạy học trong một cơ sở, đơn vị giáo dục để có thể chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những lệch lạc; khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục. Như vậy việc kiểm tra, đánh giá học sinh có ý nghĩa về nhiều mặt: Nhằm nhận định thực trạng, định hướng và điều chỉnh hoạt động của học sinh đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và định hướng hoạt động dạy của giáo viên. Nội dung đánh giá Theo các tài liệu [6, tr.24] ta có thể đánh giá nhận thức của học sinh theo 6 mức độ sau đây + Nhận biết 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Thông hiểu + Vận dụng + Phân tích + Tổng hợp + Đánh giá Trong đó: - Mức độ nhận biết là sự ghi nhận lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; nghĩa là có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp. Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của trình độ nhận thức, thể hiện ở chỗ học sinh có thể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra khi được đưa ra hoặc dựa trên thông tin có tính đặc thù của một khái niệm, một sự vật, một hiện tượng.
- Mức độ thông hiểu là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà học sinh đã học hoặc đã biết. Điều đó có thể được thể hiện bằng việc chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng). - Mức độ vận dụng là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lý hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó. Ở mức độ vận dụng yêu cầu học sinh áp dụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định lý, định luật, công thức để giải quyết một vấn đề trong học tập hoặc của thực tiễn.
Đây là mức độ thông hiểu cao hơn mức độ thông hiểu trên. - Mức độ phân tích là khả năng phân chia một thông tin thành các phần 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng. - Mức độ tổng hợp là khả năng tổng hợp các thông tin nhỏ, có mối liên hệ với nhau thành một thông tin tổng thể, khái quát. - Mức độ đánh giá là khả năng xác định giá trị của thông tin : bình xét, nhận định, xác định được giá trị của một tư tưởng, một nội dung kiến thức, một phương pháp.
Đây là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật, hiện tượng. Những chức năng và yêu cầu đánh giá học sinh Đánh giá học sinh đảm bảo 3 chức năng và 4 yêu cầu sau đây [7, tr 314] a, Chức năng - Chức năng sư phạm: Làm sáng tỏ thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động dạy và học. - Chức năng xã hội: Công khai hoá kết quả học tập của mỗi học sinh trong tập thể lớp, trường, báo cáo kết quả học tập trước phụ huynh học sinh, trước các cấp quản lý giáo dục. - Chức năng khoa học: Nhận định chính xác một mặt nào đó trong thực trạng dạy và học, về hiệu quả thực nghiệm một sáng kiến nào đó trong dạy học.
Tuỳ mục đích đánh giá mà một hoặc vài chức năng nào đó sẽ được đặt lên hàng đầu. b, Yêu cầu Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh cần đảm bảo bốn yêu cầu: khách quan, toàn diện, hệ thống, công khai. Qui trình đánh giá Theo tài liệu [7, tr 326-331], đánh giá bao gồm bốn khâu: lượng hoá, lượng giá, đánh giá và ra quyết định. a, Lượng hoá: Biểu thị mức độ thể hiện của một đặc điểm chung ở mỗi học sinh trong những học sinh mà ta muốn so sánh.
Có thể lượng hoá dưới các dạng: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Xếp loại: Phân chia một tập hợp học sinh thành một vài loại theo tiêu chí nào đó. Ví dụ: Mỗi học sinh được xếp vào một trong 5 loại: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém. + Thứ tự: Để phân hoá một cách “mịn” hơn đối với những học sinh ở cùng một mức xếp loại, giáo viên có thể dùng cách sắp thứ tự. Ví dụ: Xếp học sinh A thứ nhất, học sinh B thứ nhì, học sinh C thứ ba,… + Cho điểm: Nhằm khắc phục sự sai khác, hơn kém nhiều ít đến mức độ nào của việc lượng hoá theo cách sắp thứ tự, giáo viên sử dụng cách cho điểm số theo thang đơn vị, thang tỉ lệ.
Chú ý: Trong đánh giá học tập, cần cố gắng sao cho việc cho điểm ít nhất cũng thoả mãn yêu cầu của thang đơn vị. Ví dụ: Khi ra một đề kiểm tra, giáo viên dùng 10 câu hỏi độc lập với nhau, với mức độ khó khăn, phức tạp gần như nhau và quy định mỗi câu làm đúng được 1 điểm thì có thể coi là ta đã dùng một thang đơn vị (cũng là một thang tỉ lệ). b, Lượng giá: Sự giải thích thông tin về trình độ kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ của học sinh. Có hai cách lượng giá: + Lượng giá theo tiêu chuẩn: Giải thích thông tin về trình độ kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ của học sinh được so sánh tương đối trong một tập hợp nào đó (chẳng hạn trong toàn lớp hay trong một khối lớp của một trường, của một huyện, của một tỉnh).
Ví dụ: Học sinh A trả lời đúng 8 câu hỏi trong bài kiểm tra trong khi đa số các bạn trong lớp chỉ trả lời đúng 5 câu hỏi thì ta có thể thấy rằng học sinh A thuộc diện khá so với cả lớp. + Lượng giá theo tiêu chí: Sự giải thích thông tin về trình độ kiến thức, kĩ năng hoặc thái độ của học sinh đối chiếu với những tiêu chí nhất định. Ví dụ: Trong một bài kiểm tra, đối chiếu điểm của một học sinh so với 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com số điểm tối đa có thể đạt được: Chẳng hạn so điểm của học sinh với số 10 (theo thang điểm 10 bậc). c, Đánh giá: Đánh giá không dừng lại ở một sự giải thích thông tin về trình độ, kiến thức, kĩ năng hoặc thái độ của học sinh mà còn gợi ra những định hướng “ bổ khuyết sai sót hoặc phát huy kết quả”.
Đánh giá vào 3 giai đoạn với 3 chức năng: đánh giá chuẩn đoán (trước khi học một nội dung nào đó); đánh giá từng phần (trong quá trình dạy học); đánh giá tổng kết (sau quá trình dạy học).