MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, loại hình thi trắc nghiệm khách quan được lựa chọn nhiều trong ngành giáo dục nước ta. Phương thức này có một số ưu điểm như: Có thể dùng khảo sát kiến thức trên diện rộng một cách nhanh chóng khách quan, nó cho phép xử lý kết quả theo nhiều chiều với từng học sinh cũng như tổng thể cả lớp học hoặc một trường học. Vì vậy Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức sử dụng vào việc kiểm tra, đánh giá chất lượng kiến thức của học sinh ở trường phổ thông.
Hệ thống giáo dục phổ thông của nước ta ngoài hệ trung học phổ thông còn có hệ giáo dục thường xuyên. Cả hai hệ này đều học cùng một chương trình, tuy nhiên đối tượng hệ giáo dục thường xuyên thì phong phú hơn, độ tuổi học tập của các em không có qui định cụ thể nên một lớp có thể có nhiều thành phần. Vì vậy đặc điểm tâm sinh lí cũng khác nhau, và trên hết là trình độ của các em còn thấp gây khó khăn rất nhiều trong việc giảng dạy. Vậy có thể nói kiểm tra, đánh giá là một khâu có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá tốt sẽ phản ánh đầy đủ việc dạy của thầy và việc học của trò, đồng thời giúp nhà quản lý giáo dục hoạch định được chiến lược trong quá trình quản lí và điều hành.
Xuất phát từ nhận thức và suy nghĩ đó, qua thực tiễn giảng dạy bộ môn Vật lí ở TTGDTX chúng tôi lựa chọn đề tài: Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương “Các định luật bảo toàn” vật lí 10 cơ bản cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lí luận về phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (TNKQNLC) để xây dựng một hệ thống câu hỏi TNKQNLC chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí lớp 10 cơ bản góp phần cải tiến hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng kiến thức của học sinh. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 cơ bản của HS TTGDTX số 2 – Bắc Ninh.
Phạm vi nghiên cứu Xây dựng một hệ thống câu hỏi TNKQNLC chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí lớp 10 cơ bản. Giả thuyết khoa học Nếu xây dựng được hệ thống câu hỏi TNKQNLC phù hợp với mục tiêu dạy học nội dung chương “Các định luật bảo toàn” thì có thể đánh giá chính xác, khách quan kết quả học tập của học sinh góp phần cải tiến hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng kiến thức. Nhiệm vụ của đề tài - Nghiên cứu lý luận và kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQNLC - Nghiên cứu nội dung chương trình Vật lý 10 THPT nói chung và chương “Các định luật bảo toàn” nói riêng; trên cơ sở đó xác định được mức độ của mục tiêu nhận thức với từng đơn vị kiến thức mà học sinh cần đạt được. - Vận dụng cơ sở lý luận xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQNLC cho chương “Các định luật bảo toàn” lớp 10 TTGDTX số 2 – Bắc Ninh (cơ bản).
Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu lý luận chung Nghiên cứu cơ sở lí luận về phương pháp TNKQNLC - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đánh giá thực trạng việc kiểm tra học tập của học sinh TTGDTX - Phương pháp nghiên cứu thống kê toán học: Phân tích xử lý các số liệu thu được qua thực nghiệm. 2 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận của kĩ thuật xây dựng câu hỏi trắc nghiệm 1. Xác định mục tiêu dạy học 1.
Tầm quan trọng của việc xác định mục tiêu dạy học - Mục tiêu dạy học trước hết cần cung cấp bằng chứng và tiêu chí để đánh giá cho người học. - Người dạy khi đã có được phương hướng, tiêu chí thì có thể quyết định nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học nhằm truyền đạt kiến thức cho người học. - Người dạy phải có được ý tưởng rõ ràng về cái cần được kiểm tra đánh giá khi kết thúc mỗi môn học, học phần hay quá trình giảng dạy từng kiến thức cụ thể - Người dạy phải cung cấp cho người học biết những cái mong đợi ở đầu ra sau khi học, giúp người học sử dụng kiến thức để tổ chức công việc của mình. - Người dạy phải có được ý tưởng rõ ràng về các kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có của người giáo viên.
Cách biểu thị mục tiêu dạy học - Biểu thị mục tiêu dạy học cần phải rõ ràng, cụ thể - Những mục tiêu này phải đạt tới được trong khoá học hay đơn vị học tập. - Mục tiêu dạy học phải bao gồm nội dung học tập thiết yếu của môn học và phải quy định rõ kết quả học tập khi người học đạt đến những mục tiêu đó. - Mặt khác, về định lượng, các mục tiêu cũng phải đo lường được. Các mục tiêu học tập cơ bản Các mục tiêu học tập thường bao gồm ba lĩnh vực: Kiến thức, kĩ năng và thái độ học tập.
Kiến thức Đòi hỏi ở các mức độ: ghi nhớ và hiểu biết kiến thức bao gồm nhớ các kiến thức đã biết và có thể truyền đạt lại thông tin thu nhận được bằng các hình thức hay diễn đạt khác. Người học cần hiểu biết các mối liên hệ bên trong của kiến thức, có khả năng phân tích, tổng hợp, biết đưa ra những kết luận và đánh giá kết quả học tập. Kĩ năng Đòi hỏi người học có khả năng sử dụng các tri thức đã học vào việc giải quyết một vấn đề nhất định dựa trên những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Tức là sử dụng kiến thức để thực hiện một công việc nào đó.
Thái độ Biểu hiện trạng thái nội tâm của người học ở mức độ phản ứng tích cực hay tiêu cực, chấp nhận hay không chấp nhận đối với sự vật, hiện tượng, con người sau quá trình học tập. Phân biệt các trình độ nhận thức Vào năm 1956 Benjamin Bloom đã xây dựng các cấp độ mục tiêu giáo dục, thường được gọi là cách phân loại Bloom, trong đó lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản đến phức tạp nhất với sáu mức độ: Nhận biết (knowledge); thông hiểu (comprehension); ứng dụng (application); phân tích (Analysis); tổng hợp (Synthesis); đánh giá (Evaluation). Với các bài trong sách giáo khoa chuẩn mức độ nắm vững kiến thức chỉ giới hạn ở ba cấp độ đầu tiên đó là: - Nhận biết: Là khả năng ghi nhớ hoặc nhận ra khái niệm, định nghĩa, định lí, hệ quả, hoặc sự vật hiện tượng quá trình dưới những hìmh thức mà học sinh đã học. - Thông hiểu: Là hiểu được ý nghĩa của khái niệm, hiện tượng sự vật, giải thích chứng minh được, là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật hiện tượng, nó liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà học sinh đã học hoặc đã biết.
- Ứng dụng: Là khả năng vận dụng các kiến thức đã học vào một tình huống nào đó như: Áp dụng các quy tắc, phương pháp, khái niệm, định luật, công thức, để giải quyết một vấn đề trong học tập, trong thực tiễn. Mức độ ứng dụng đôi khi cần phân biệt: + Mức độ ứng dụng 1: Giải được bài tập chỉ dựa vào một định luật, một nguyên lí, một công thức đã học. + Mức độ ứng dụng 2: Giải được bài tập chỉ dựa vào hai định luật, hai nguyên lí, hai công thức đã học. Phương pháp và kỹ thuật trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn 1.
Các hình thức trắc nghiệm khách quan a. Trắc nghiệm đúng – sai (yes/no questions) Loại này được trình bày dưới dạng một phát biểu và học sinh trả lời bằng cách chọn đúng (Đ) hay sai (S). [16] - Ưu điểm: Đây là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm về những sự kiện. Nó giúp cho việc trắc nghiệm một lĩnh vực rộng lớn cho khoảng thời gian ngắn.
- Nhược điểm Học sinh có thể đoán mò, vì vậy có độ tin cậy thấp, dễ tạo điều kiện cho HS thuộc lòng hơn là hiểu. Học sinh giỏi có thể không thỏa mãn khi buộc phải chọn “đúng” hay “sai” khi câu hỏi viết chưa kĩ càng. Trắc nghiệm ghép đôi (matching items) Trong loại này có hai cột danh sách: dãy bên trái là phần dẫn trình bày những nội dung muốn kiểm tra (khái niệm, định nghĩa, định luật, hiện tượng,…), dãy bên phải là phần trả lời trình bày các nội dung (câu, mệnh đề, công thức,…) phù hợp với nội dung của phần dẫn. [16] Nhiệm vụ của HS khi làm bài là ghép chúng lại một cách thích hợp.
Để tránh sựđoán mò của HS, khi soạn đề phải để số câu lựa chọn ở hai bên không bằng nhau – số câu ở bên phải lớn hơn số câu ở bên trái. - Ưu điểm Các câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng. Có thể dùng loại câu hỏi này để đo các mức trí năng khác nhau. Nó đặc biệt hữu hiệu trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập các mối tương quan.
- Nhược điểm Muốn soạn câu hỏi để đo các mức kiến thức cao đòi hỏi nhiều công phu. Học sinh mất nhiều thời gian làm bài vì mỗi câu hỏi phải đọc lại toàn bộ những câu lựa chọn, trong đó có cả những câu rõ ràng là không thích hợp. Trắc nghiệm điền khuyết Loại câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết có thể có hai dạng, chúng có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn, hay cũng có thể gồm những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ trống mà học sinh phải điền vào một từ hay một nhóm từ ngắn. Loại câu hỏi này có các ưu – nhược điểm như sau: [16] - Ưu điểm: HS có cơ hội trình bày những câu hỏi khác thường, phát huy óc sáng tạo, sáng kiến, luyện trí nhớ.
- Nhược điểm: Khi soạn thảo loại câu hỏi này thường dễ mắc sai lầm là trích nguyên văn các câu từ trong SGK. Phạm vi kiến thức của loại câu hỏi này thường chỉ giới hạn vào chi tiết vụn vặt. Cách chấm điểm không dễ dàng, thiếu yếu tố khách quan. Đặc biệt nó chỉ kiểm tra khả năng nhớ, không có khả năng kiểm tra phát hiện sai lầm của học sinh.