mở đầu nhân tính chửi tác phẩm Ý nghĩa Tiếng tiếng Con Sự tha chửi Chí Phèo chửi của người hóa lưu Chí manh Thái độ Sáng tạo dân Con quỷ của Nam làng dữ làng Cao Vũ Đại Đảo trật tự Kết cấu Hình thái thời gian thu hẹp ngôn ngữ dần đối nửa trực tượng chửi tiếp Câu hỏi nêu vấn đề cho thấy được bản chất phức tạp về nội dung, chứa những băn khoăn, thắc mắc, những mâu thuẫn, những bế tắc mà học sinh gặp phải trên con đường nhận thức. Nếu muốn nhận thức tiếp phải giải quyết vấn đề đó. Thứ ba, câu hỏi nêu vấn đề thường phản ánh được tâm trạng ngạc nhiên của học sinh: Là câu hỏi được tạo ra bằng các sự kiện bất ngờ hoặc bất bình thường và bản thân câu hỏi chứa đựng yếu tố lý thú, gây hưng phấn, bất ngờ cho học sinh. Ví dụ : Vì sao nhân vật Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” có lúc nghĩ mình như con trâu, con ngựa, thậm chí không bằng con trâu con ngựa trong nhà Thống Lí Pá Tra mà không so sánh mình với thân con bọ ngựa, con 12 z chẫu chuộc như cô gái trong truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” của đồng bào dân tộc Thái? Ở câu hỏi nêu vấn đề này, yếu tố tạo ra sự bất ngờ cho học sinh đó là khi giáo viên đưa ra sự so sánh trong cách nghĩ của Mị và cô gái Thái.
Cô gái truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” thân con bọ ngựa, con chẫu chuộc. Còn Mị ví mình như con trâu, con ngựa. Học sinh gặp phải câu hỏi này sẽ băn khoăn, suy nghĩ, thắc mắc, tìm tòi câu trả lời để lí giải điều đó: vì cô gái Thái quá đau khổ khi bị cha mẹ ép gả cho người mà cô không yêu thương và đang còn ở với cha mẹ, vì vậy cô chưa bị áp bức bóc lột sức lao động. Còn Mị, với thân phận con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra, cô phải việc quần quật suốt ngày, suốt tháng, suốt năm mà không được nghỉ ngơi.
Hình ảnh so sánh này vừa cho người đọc thấy Mị bị bóc lột sức lao động thật tàn nhẫn, đồng thời tố cáo tội ác dã man của cường quyền phong kiến miền núi đối với người dân nơi đây. Nguyên tắc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề Thứ nhất, câu hỏi nêu vấn đề phải dựa vào đặc điểm tâm lý tiếp nhận của học sinh. Học sinh là người cộng sự trong tiến trình giảng dạy của giáo viên. Học sinh vừa là đối tượng nhận thức, vừa là chủ thể tiếp nhận văn học.
Mọi hoạt động của giáo viên trong giờ giảng văn đều có liên quan đến học sinh. Mọi phương pháp giáo viên vận dụng đều ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý nhận thức của học sinh. Do đó giáo viên phải hiểu học sinh, nắm được đối tượng cộng sự với mình hay những người chịu sự tác động của phương pháp. Hiểu học sinh là hiểu tâm lý nhận thức cũng như khả năng tư duy, trình độ văn hóa, vốn sống, kinh nghiệm, những điều kiện vật chất, tinh thần có ảnh hưởng đến học tập của học sinh.
Trong quá trình dạy học việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề càng phải quan tâm tới sự tiếp nhận của học sinh. Bởi đây là loại câu hỏi khái quát, tổng hợp, có tình huống yêu cầu học sinh động não, tư duy. Nhưng nếu quá chú trọng đến câu hỏi nêu vấn đề, giáo viên dễ đặt ra những câu hỏi vượt khả năng giải mã của học sinh. Và như thế, hậu quả ngoài mong muốn là 13 z giáo viên đưa học sinh trở lại với không khí lạnh lùng, thờ ơ, của giờ giảng văn.
Sự hứng thú của học sinh là một yếu tố quan trọng đến triển khai việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề. Trên cơ sở nắm bắt được tâm lí và khả năng tiếp nhận của học sinh, giáo viên xây dựng câu hỏi cho phù hợp, tránh những câu hỏi quá dễ hoặc quá khó. Nguyên tắc thứ hai, câu hỏi phải gắn với vấn đề và tình huống có vấn đề. Đây là nguyên tắc đặc thù của việc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề.Gooki nhận xét: “Tác phẩm văn học nào cũng có vấn đề” [40].
Vậy: Vấn đề trong tác phẩm là gì? “Vấn đề trong tác phẩm văn học là nhân tố chính mà tác giả phản ánh, lý giải trong tác phẩm. Vấn đề trong tác phẩm bao giờ cũng có liên quan đến đời sống hiện thực và nằm trong ý đồ sáng tác của nhà văn. Vấn đề trong tác phẩm vô cùng phong phú và đa dạng, song, tựu trung lại không ngoài hai lĩnh vực nội dung và hình thức nghệ thuật”[8]. Ở các nhà văn, nhà thơ lớn, vấn đề trong tác phẩm thường thể hiện được bản chất của đời sống, được phản ánh và lý giải trên quan điểm, lập trường chính trị và tài năng nghệ thuật riêng của tác giả.
Theo định nghĩa của GS. Đặng Vũ Hoạt và GS. Phan Trọng Luận: “Tình huống có vấn đề là tình huống trong đó chủ thể nhận thức có trạng thái tâm lý đặc biệt: cảm thấy có cái “khó” trong nhận thức, hay nói cách khác, có mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái chưa biết, đồng thời chủ thể có phương thức hành động mới để đạt được hiểu biết mới” [20]. “Câu hỏi nêu vấn đề đặt ra từ “vấn đề” của tác phẩm.
Là câu hỏi chứa đựng mâu thuẫn (giữa cái đã biết và cái chưa biết) nhằm tạo được tình huống có vấn đề, kích thích được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong cảm thụ văn học của học sinh. Câu hỏi phù hợp với tầm đón nhận của học sinh và được các em tiếp nhận một cách có ý thức” [33]. Về mặt hình thức thì cả ba đều chứa đựng yếu tố “vấn đề”. “Vấn đề” trong tác phẩm văn chương nào cũng có.
Nếu hiểu như định nghĩa đã được chấp 14 z nhận thì khi tìm hiểu một tác phẩm văn chương sẽ có thể có nhiều vấn đề. Có vấn đề lớn bao gồm những vấn đề trung bình, và mỗi vấn đề trung bình lại gồm một số vấn đề nhỏ hơn, giản đơn hơn. Trong dạy học, phát triển vấn đề đòi hỏi ở GV một trình độ cao của sự phát triển trí tuệ và sự thành thục của kĩ năng. Như vậy, câu hỏi nêu vấn đề là cơ sở hình thành và xuất hiện tình huống có vấn đề.
Có vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề, mới có tình huống có vấn đề. Câu hỏi nêu vấn đề chính là phương tiện quan trọng để người giáo viên đưa vấn đề vào tình huống có vấn đề. Trong giờ học tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, giáo viên đặt câu hỏi: “Vũ Nương là người thương yêu chồng con. Vậy tại sao khi được giải oan, Vũ Nương lại không trở về?”.
Đây là câu hỏi chứa nhiều mâu thuẫn giữa tâm lý muốn trở về và hành động không trở về của Vũ Nương. Ý muốn trở về là điều có sẵn trong thiên truyện, còn nguyên nhân khiến Vũ Nương không trở về là điều chưa biết, học sinh cần phải khám phá. Trong tình huống này, học sinh phải vận dụng kiến thức tác phẩm, đồng thời, phải đặt ra nhiều giả thiết để lý giải. Có thể sơ đồ hóa những lí giải, suy luận của học sinh như sau: Sống trong lễ giáo PK, liệu có hạnh phúc? Còn ý nghĩa Có phản tố cáo xã Nếu Vũ ánh đúng hội PK? Nương trở bản chất xã về hội PK? Lễ giáo PK có cho người ấy quyền được sống không? 15 z Kiến thức tác phẩm, kiến thức thời đại và hình thức suy luận không những giúp học sinh hiểu nguyên nhân Vũ Nương không trở về mà còn giúp học sinh thấy được ý nghĩa tố cáo xã hội phong kiến đương thời.
Đồng thời, tác phẩm là thể hiện tấm lòng thương cảm của nhà văn đối với những người phụ nữ sống trong xá hội bất công, vô nhân đạo đó. Nắm bắt được ý nghĩa của tác phẩm và tấm lòng nhân hậu của nhà văn từ việc giải quyết tình huống có vấn đề là cách chiếm lĩnh tri thức chủ động, sáng tạo của học sinh. Nguyên tắc thứ ba, câu hỏi phải mang tính hệ thống, liên tục. Câu hỏi nêu vấn đề nằm trong một hệ thống (không chỉ riêng hệ thống của những câu hỏi có vấn đề) có quan hệ chặt chẽ và như một tất yếu của mối quan hệ nguyên nhân – hệ quả được nảy sinh trong quá trình dạy học.
Đặt câu hỏi nêu vấn đề trong hệ thống các câu hỏi có sự liên quan đến nhau. Câu hỏi tái hiện là cơ sở để đặt ra câu hỏi tổng hợp, khái quát. Câu hỏi tổng hợp, khái quát là tiền đề để xây dựng câu hỏi nêu vấn đề. Nếu không có câu hỏi tái hiện, câu hỏi tổng hợp, giáo viên sẽ không xây dựng được câu hỏi nêu vấn đề.
Nói cách khác, câu hỏi nêu vấn đề chỉ có thể xây dựng trên nền tảng của câu hỏi tái hiện và câu hỏi tổng hợp, khái quát. Học sinh có tái hiện lại kiến thức tác phẩm, đồng thời, biết tổng hợp và khái quát kiến thức, mới có cơ sở để giải quyết yêu cầu của câu hỏi nêu vấn đề. “Câu hỏi nêu vấn đề mang tính tổng hợp, có hệ thống, phức tạp về nội dung,…” [35]. “Câu hỏi nêu vấn đề chứa đựng xâu chuỗi các vấn đề, chi tiết, sự kiện trong tác phẩm” [41].
Nguyên tắc thứ tư, câu hỏi nêu vấn đề phải đặt trong mối tương quan với các phương pháp khác. Trong một giờ học nói chung, giờ giảng văn nói riêng, không có phương pháp nào là tuyệt đối, cũng như không có hệ thống câu hỏi nào là duy nhất. Các phương pháp cơ bản đã được lý luận chỉ rõ, đó là: Đọc sáng tạo; gợi mở; tái tạo và phương pháp nghiên cứu. Mỗi phương pháp đều có những ưu thế riêng.
Đọc sáng tạo dễ tác động về mặt cảm xúc, dễ tác động đến sự liên tưởng, tưởng tượng ở người đọc. Gợi mở nhằm định hướng tìm tòi, phát hiện, 16 z tháo gỡ những vướng mắc cho học sinh. Tái tạo hỗ trợ đắc lực cho việc phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề. Nghiên cứu là tiếp xúc với đối tượng, tập hợp các dữ kiện về đối tượng, vạch ra giả thiết, tìm kiếm cách chứng minh, khẳng định và đi đến kết luận vấn đề.
Rõ ràng mỗi phương pháp lại có một đặc điểm, vai trò riêng. Vì vậy không thể tuyệt đối hóa hay cô lập hóa một phương pháp cũng như một hệ thống câu hỏi.