MỞ ĐẦU 1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI Làm việc từ xa hay làm việc tại nhà đã được áp dụng lần đầu từ những năm 90 của thế kỳ trước. Tuy nhiên, hình thức làm việc này chỉ thực sự phổ biến toàn cầu từ khi đại dịch Covid-19 bắt đầu lây lan rộng khắp các châu lục (Shankar, 2021). Sau thời kỳ đỉnh cao của dịch Covid-19, nhiều cá nhân và doanh nghiệp vẫn tiếp tục triển khai hình thức làm việc tại nhà (bán phần hoặc toàn phần). Tại Mỹ, có một sự thay đổi rõ rệt sau khi đại dịch qua đi đó là thời gian làm việc tại văn phòng đã được rút ngắn đáng kể (sống, 2022).
Theo đó, giờ đây có ít nhân viên đến công sở làm việc đủ 5 ngày trong tuần mà phổ biến chỉ còn 3,5 đến 4 ngày, tại thành phố New York, trước khi dịch Covid-19 bùng phát, tỷ lệ những công việc có thể làm từ xa hoàn toàn là dưới 4% nhưng nay, sau đại dịch, con số ngày đã lên đến 11% (sống, 2022). Năm 2021, PwC toàn cầu đã công bố có 33% số người khảo sát mong đợi một mô hình làm việc kết hợp giữa lực lượng làm việc toàn thời gian tại văn phòng, với lực lượng vừa làm tại văn phòng vừa có thể làm từ xa và lực lượng làm việc hoàn toàn từ xa sau khi đại dịch kết thúc (PwC, 2021). Kết quả khảo sát của chuyên trang Việc Làm Tốt vào tháng 5/2022 cho thấy có 19% số người tham gia khảo sát mong muốn được làm những công việc trực tuyến và tại nhà trong thời gian sắp tới (Nguyễn L. Bên cạnh nhiều lợi thế không thể chối cãi, không thiếu những rủi ro và thách thức mà doanh nghiệp phải đối mặt khi bất đắc dĩ phải chuyển đổi quá nhanh sang hình thức làm việc này (Shankar, 2021).
Trong đó, việc quản trị con người đã khó nay còn khó hơn khi người lao động giờ đây làm việc trong một môi trường mà ranh giới giữa công việc và cuộc sống cá nhân trở nên mờ nhạt, họ có thể dễ xao nhãng hơn, cũng có trở nên kiệt sức khi làm việc quá độ (Purwanto và cộng sự, 2020). Collins và Moschler (2009) đã phát hiện người lao động bị cô lập và giảm năng suất khi làm việc tại nhà. Hơn nữa, mối quan hệ giữa đồng nghiệp cũng có thể bị tổn hại (Gajendran và Harrison 2007), người nhân viên có thể bị phân tâm bởi sự hiện diện của trẻ nhỏ hoặc các thành viên trong gia đình khi làm việc tại nhà (Baruch 2000; 2 Kazekami 2020). Ở Việt Nam, theo Tạp chí ngân hàng (2021), có 28,4% số người lao động cho rằng họ bị con nhỏ làm ảnh hướng tới công việc và 36.3% số người cảm thấy cô đơn và thiếu kết nối với tổ chức khi làm việc tại nhà (Nguyễn & Trịnh, 2021).
Song song đó, người lao động cũng phải hứng chịu những lo lắng, hoặc những lo âu khác xuyên thường xuyên xảy ra do môi trường biến động khó lường ngày nay, khi chúng ta đang sống trong một thế giới khó đoán với nhiều sự thay đổi đột ngột đến từ những tác động mơ hồ, phức tạp không thể lường. Nhân loại bước vào một dấu mốc lớn khi cuộc cách mạng 4.0 mang đến những tiến bộ khoa học vượt trội hơn bao giờ hết, tuy nhiên chính điều đó cũng kéo theo những thay đổi không thể kiểm soát, hệ lụy của nó gây ra những thách thức toàn cầu mà sức khỏe tinh thần là một trong số đó. Điều này cũng gây nên những căn bệnh về tinh thần của người dân toàn cầu khi đối mặt với sự thay đổi đột ngột môi trường công việc, cuộc sống xáo trộn, quá tải khi phải tiếp nhận thông tin đa chiều từ truyền thông (Trần, Nguyễn, & Nguyễn, 2021). Chứng kiến và trải nghiệm mô hình làm việc từ xa, nhiều nhóm tác giả và người nghiên cứu trên Thế Giới đã thực hiện các công trình nghiên cứu xoay quanh hình thức làm việc không trực tiếp này đối với chất lượng cuộc sống của người lao động.
Ví dụ, một nghiên cứu về chất lượng cuộc sống và hiệu suất làm việc của những người làm việc từ xa thực hiện ở Ý đã đào sâu các tác động mà xung đột gia đình - công việc, giãn cách xã hội, sự xao nhãng, khả năng tự làm chủ lên hiệu suất làm việc, mức độ gắn kết và căng thẳng của nhân viên (Galanti, 2021). Một nghiên cứu khác ở Ba Lan nhằm phân tích mối quan hệ giữa làm việc từ xa và sự hạnh phúc, phản ảnh qua ba tính chất là các mối quan hệ trong công việc; sức khỏe; sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống đối với những người buộc phải việc từ xa vì đại dịch (Juchnowicz & Kinowska, 2021). Một nghiên cứu ở Indonesia tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của sức khỏe tinh thần đến năng suất làm việc của người dân nước này khi làm việc tại nhà (Sutarto, Wardaningsih, & Putri, 2021). Các nghiên cứu cho thấy có những mối liên hệ không thể phủ nhận giữa môi trường làm việc, điều kiện công việc, 3 sức khỏe tinh thần, và trên hết là sự hạnh phúc và viên mãn trong cuộc sống của người lao động khi làm việc từ xa.
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng một nhân viên hạnh phúc sẽ là một nhân viên làm việc hiệu quả (Bataine, 2019). Vì thế mà hạnh phúc của nhân viên, cả về thể chất và tinh thần, là rất quan trọng. Và như nhấn mạnh trong các nghiên cứu, hạnh phúc của nhân viên ảnh hưởng đến sự thành công của tổ chức (Bataine, 2019). Cụ thể là người lao động cảm thấy tâm trạng tốt, đối phó với ít căng thẳng hơn ở nơi làm việc và ở nhà có nhiều khả năng trải nghiệm sự hài lòng đối với công việc của họ, và điều này có thể ảnh hưởng đáng kể đến hạnh phúc của họ (Bataine, 2019).
Nghĩa là với một số người việc đi làm sẽ khiến họ hạnh phúc hơn khi đạt được sự hài lòng trong công việc và thành tích của bản thân. Ngược lại, một số người khác bị giảm đi mức độ hạnh phúc khi công việc của họ có quá nhiều căng thẳng và lo âu. Tại nơi làm việc, hạnh phúc của một người bị ảnh hưởng bởi cả các sự kiện tồn tại trong thời gian ngắn cũng như các nhiệm vụ lặp đi lặp lại trong thời gian dài; nó cũng bị ảnh hưởng bởi những thuộc tính ổn định của cá nhân như tính cách, hay sự phù hợp giữa những gì tổ chức cung cấp và những kỳ vọng, nhu cầu và sở thích của mỗi cá nhân (Fisher, 2010). Trong công việc, ở cấp độ tức thời, một cá nhân cảm nhận hạnh phúc khi họ tin rằng họ đang thực hiện một công việc tốt hơn bình thường.
Cao hơn mọt bậc, ở cấp độ con người, có bằng chứng cho thấy các yếu tố cấu trúc nên hạnh phúc bao gồm sự hài lòng trong công việc (Fisher, 2010). Mặt khác, sức khỏe tinh thần là một trong những thành phần quan trọng quyết định sự hạnh phúc chủ quan (Bertoni, Cavapozzi, Pasini, & Pavese, 2021). Theo Banks và cộng sự (2021), một thế giới nhiều thay đổi và biến động có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần người lao động trong ngắn hạn lẫn dài hạn, nổi bật là vấn đề tài chính phát sinh ở những hộ gia đình có các thành viên làm việc trong lĩnh vực bị 4 ảnh hưởng bởi khủng hoàng, hay việc sự sắp xếp lại trật tự vốn có của gia đình khi có sự can thiệp của công việc (Banks, Fancourt, & Xu, 2021). Ngoài ra, không gian vật lý hạn chế khi tất cả mọi người phải chia sẻ chung một bầu không khí, chung một khoảng thời gian sẽ trở nên đặc biệt khó khăn với các gia đình đã có căng thẳng từ trước, hay việc thích ứng với công nghệ cũng là tác nhân ảnh hưởng đến tinh thần của người lao động và gián tiếp tác động đến trải nghiệm hạnh phúc (Banks, Fancourt, & Xu, 2021; Bertoni, Cavapozzi, Pasini, & Pavese, 2021).
Tác giả chưa tìm thấy một nghiên cứu trực tiếp khai thác mối liên hệ của trạng thái chánh niệm, sự cân bằng trong công việc và cuộc sống, khả năng phục hồi của đối tượng là những người lao động chuyên nghiệp (professional employees), cũng như hiệu quả làm việc và sự hài lòng trong công việc có tác động như thế nào đến mức độ hạnh phúc nơi họ trong bối cảnh làm việc tại nhà tại Việt Nam. Việt Nam đã hứng chịu tác động mạnh mẽ của Covid-19 sau các quốc gia kể trên, các đợt giãn cách xã hội rồi đến phong tỏa từng khu vực ở Việt Nam được thực hiện quyết liệt từ nửa sau năm 2021. Đến nay, dù dịch đã cơ bản được khống chế nhưng vẫn có một số lớn người lao động làm việc tại nhà, theo báo cáo mức độ sẵn sàng về kỹ năng số Việt Nam công bố tháng 3 năm 2021 của PwC Việt Nam, có 82% người tham gia khảo sát tin rằng làm việc từ xã sẽ trở nên phổ biến hơn, đặc biệt là sau đại dịch Covid-19 (PwC, 2020). Vì thế, nghiên cứu “Làm việc tại nhà: Các tiền tố và kết quả về sự hạnh phúc của người lao động trong các ngành dịch vụ chuyên nghiệp” (Working from home: Antecedents and well-being outcomes for professional service employees) được đề xuất nhằm mục đích xây dựng mô hình thể hiện mối liên hệ giữa các yếu tố nêu trên, đồng thời ứng dụng vào bối cảnh cụ thể ở Việt Nam để kiểm tra độ phù hợp của mô hình nghiên cứu.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1) Xác định ảnh hưởng của trạng thái chánh niệm của người lao động làm việc tại nhà lên sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, thành quả làm việc, sự hài lòng với công việc và khả năng hồi phục của họ.
5 2) Xác định ảnh hưởng của khả năng hồi phục của người lao động làm việc tại nhà lên thành quả làm việc và sự hài lòng với công việc làm tại nhà của họ. 3) Xác định ảnh hưởng của sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của người lao động làm việc tại nhà lên thành quả làm việc của họ, và ảnh hưởng của thành quả làm việc lên sự hài lòng với công việc làm tại nhà của họ. 4) Xác định ảnh hưởng của của sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống và sự hài lòng với công việc lên hạnh phúc của người lao động làm việc tại nhà. 5) Đề xuất hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp có người lao động làm việc tại nhà.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu là những người lao động chuyên nghiệp (professional employees) đã làm việc tại nhà ít nhất ba tuần liên tiếp tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khác ở Việt Nam.