Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đ}y liên quan đến đề tài nghiên cứu. Chương 3: Giả thuyết, mô hình nghiên cứu v{ phương ph|p nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm hạn chế tài chính trong các nghiên cứu trước đ}y: Theo Kenynes (1936) cho rằng sự cân bằng thanh khoản cho phép các công ty thực hiện các dự án có giá trị. Tuy nhiên, tầm quan trọng của sự cân bằng thanh khoản bị ảnh hưởng bởi mức độ mà các công ty tiếp cận với nguồn vốn bên ngoài. Nếu một công ty có thể huy động không hạn chế nguồn vốn bên ngo{i nghĩa l{ công ty không bị hạn chế tài chính thì không có nhu cầu phòng ngừa trước những nhu cầu đầu tư trong tương lai v{ thanh khoản của công ty cũng không trở thành vấn đề quan trọng”. Đ}y cũng chính l{ cơ sở định nghĩa m{ t|c giả Almeida và các cộng sự sử dụng trong bài nghiên cứu năm 2003.
Theo Fazzari và các công sự (1988): “Dựa theo Myers (1984) đ~ cung cấp các bằng chứng thể hiện nguồn vốn bên ngoài không phải là thay thế hoàn hảo cho nguồn vốn nội bộ nên chi phí tài chính từ nguồn vốn bên ngoài có thể kh|c nhau đ|ng kể so với nguồn nội bộ.”Fazzari cho rằng chi phí đầu tư có thể phụ thuộc vào sự sẵn có của chính nguồn nội bộ này và các doanh nghiệp được coi như bị hạn chế tài chính khi chênh lệch giữa chi phí nguồn vốn nội bộ và nguồn vốn bên ngo{i tăng”. Theo Kaplan v{ Zingales (1995): “Một công ty bị hạn chế tài chính nếu các chi phí sẵn có của nguồn vốn bên ngo{i ngăn cản các công ty thực hiện các quyết định đầu tư v{ buộc các công ty phải chọn thực hiện bằng nguồn vốn nội bộ sẵn có”. Và vào bài nghiên cứu năm 1997, c|c t|c giả bổ sung thêm kết luận giống với Fazzari (1988): “Một công ty được cân nhắc như bị hạn chế nhiều về tài chính khi chênh lệch giữa chi phí của nguồn vốn nội bộ và nguồn vốn bên ngo{i ng{y c{ng tăng”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Và trong nghiên cứu của Denis v{ Sibilkov (2009) cũng nhận định về công ty hạn chế tài chính giống như c|c định nghĩa được nêu ra bên trên.
Công ty với chi phí sử dụng nguồn vốn bên ngo{i cao tương đương với công ty bị hạn chế tài chính sẽ dựa nhiều hơn v{ c|c nguồn lực tài chính nội bộ để hạn chế việc giảm đi đầu tư trong tương lai, giảm hiệu quả hoạt động và sự tăng trưởng của công ty.2 Khái niệm về đầu tư: “Đầu tư l{ việc nh{ đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Lu}t đầu tư v{ quy định pháp luật có liên quan kh|c. Luật n{y cũng quy định hoạt động đầu tư l{ hoạt động của nh{ đầu tư trong qu| trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự |n đầu tư. Trong tài chính, đầu tư được định nghĩa l{ việc mua các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu,…với hy vọng rằng những khoản lợi tức dương sẽ được nhận trong tương lai. Hay nói c|ch kh|c, c|c chuyên gia t{i chính định nghĩa đầu tư v{ việc sử dụng tiền để tạo ra nhiều tiền hơn.
Trong kinh tế, đầu tư thực tế là việc mua sắm máy móc, thiết bị, nhà xưởng,…để tăng cơ hội việc l{m, tăng sản xuất và tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Trong kinh doanh thì đầu tư l{ việc tận dụng các nguồn lực nhằm tăng thu nhập hay sản lượng đầu ra trong tương lai của công ty (liên quan đến mua sắm tài sản hữu hình để tăng sản lượng sản xuất trong tương lai giúp công ty phát triển trong dài hạn). Modigliani v{ Miller (1958) đ~ nghiên cứu về cấu trúc tài chính của công ty và quyết định đầu tư. Theo đó c|c t|c giả cho rằng không tồn tại mối quan hệ giữa dòng tiền v{ đầu tư của công ty dưới giả định thị trường hoàn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nguồn vốn bên ngoài và bên trong công ty có thể thay thế nhau nên quyết định đầu tư độc lập hoàn toàn với những nhân tố t{i chính kh|c như dòng tiền, đòn bẩy tài chính hay chính sách cổ tức. Với bắt đầu trong nghiên cứu của Modigliani và Miller (1958), các nghiên cứu của tác giả Jorgensen và các cộng sự (1963, 1966, 1967, 1971) đ~ đưa ra lý thuyết đầu tư t}n cổ điển: Huy động vốn từ bên ngoài hay bên trong công ty đều có chi phí như nhau nên quyết định đầu tư phụ thuộc chủ yếu vào những yếu tố như tỷ suất sinh lợi của dự |n đầu tư, l~i suất thực, thuế,…còn c|c quyết định t{i chính như huy động bằng nguồn vốn bên trong hay bên ngoài, bằng hình thức nào hay quyết định chi trả cổ tức thì không liên quan đến quyết định đầu tư. Tuy nhiên các nghiên cứu sau đó lại đặt ra câu hỏi “Trong một thị trường không hoàn hảo, liệu đầu tư có được quyết định bởi các quyết định tài chính của công ty hay không?” Theo Meyer và các cộng sự (1964, 1990): thì đầu tư phụ thuộc chủ yếu vào dòng tiền hoặc nguồn tài chính nội bộ (là tổng lợi nhuận giữ lại và khấu hao), điều n{y có nghĩa l{ đầu tư có thể bị hạn chế bởi nguồn cung của vốn nội bộ. Điều n{y cũng góp phần giải thích cho thứ tự ưu tiên trong việc sử dụng nguồn vốn: thứ nhất là nguồn vốn nội bộ, thứ hai là khoản nợ bên ngoài, thứ ba là cổ phần mới.
Trong thực tế đầu tư có thể phụ thuộc vào tình trạng tài chính của công ty bởi sự không hoàn hảo của thị trường dẫn đến các vấn đề liên quan như: bất cân xứng thông tin, chi phí đại diện… Thông tin bất cân xứng hàm ý là không phải tất cả những người tham gia trong thị trường đều có thể tiếp cận c|c thông tin như nhau. Myers v{ Majluf (1984) đ~ tranh luận rằng khi xuất hiện thông tin bất cân xứng, c|c nh{ đầu tư bên ngo{i sẽ đ|nh gi| thấp các chứng khoán rủi ro, vì vậy chi phí huy động vốn bên ngoài sẽ bị tăng lên cao hơn l{m mức độ chênh lệch giữa chi phí tài trợ bên trong và bên ngoài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 ngày càng lớn. Vì vậy, các công ty mà có nguồn tài trợ từ bên trong sẽ ít bị phụ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài với chi phí cao nên được xem là ít rủi ro hơn.2 Các lý thuyết liên quan đến hạn chế tài chính, đầu tư, nắm giữ tiền: 2. Hubbard, and Bruce Petersen (1988) Các tác giả đưa ra quan điểm nguồn vốn nội bộ và nguồn vốn bên ngoài không phải là một thay thế hoàn hảo cho nhau.
Theo quan điểm này, đầu tư có thể phụ thuộc vào các yếu tố tài chính của công ty như l{ nguồn vốn nội bộ sẵn có, việc dễ tiếp cận đến nợ mới hoặc vốn cổ phần hay các hoạt động của thị trường tín dụng riêng biệt. Tác giả bắt đầu bằng cách xem xét vai trò của các nhân tố tài chính trong đầu tư. Bài nghiên cứu chứng minh sự khác nhau trong mẫu hình tài chính bởi kích thước công ty và xem xét những lý do giải thích cho việc nguồn vốn nội bộ và nguồn vốn bên ngoài không phải là một thay thế hoàn hảo. Bài sử dụng dữ liệu các công ty sản xuất để phân tích sự khác nhau trong đầu tư công ty m{ được phân loại theo thu nhập giữ lại thực tế.
Nếu những bất lợi trong chi phí của nguồn vốn bên ngoài nhỏ thì tỷ lệ giữ lại nên có mối quan hệ yếu hoặc không có quan hệ gì với đầu tư: công ty chỉ đơn giản sử dụng nguồn vốn bên ngo{i để tài trợ cho đầu tư khi nguồn vốn nội bộ không ổn định, bất kể chính sách cổ tức của công ty như thế nào. Nếu chi phí bất lợi l{ đ|ng kể thì công ty mà giữ lại v{ đầu tư phần lớn thu nhập có thể không huy động được nguồn vốn với chi phí thấp v{ đầu tư của họ nên bị tác động của biến động trong dòng tiền. Bài nghiên cứu muốn kiểm định sự khác biệt trong độ nhạy của đầu tư đối với dòng tiền trên nhóm công ty đối mặt với hạn chế tài chính nhiều hay ít. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Để chứng minh giả thuyết này, tác giả sử dụng mô hình q, mô hình tân cổ điển và mô hình gia tốc đầu tư.
Trong mỗi trường hợp, đầu tư của công ty mà tài trợ bởi nguồn vốn nội bộ thì nhạy cảm hơn đối với sự biến động của dòng tiền hơn l{ c|c công ty l}u năm v{ có tỷ lệ chi trả cổ tức cao. Các tác giả cũng tìm ra rằng sự khác biệt giữa c|c công ty trong độ nhạy cảm của đầu tư với các biến trong bảng c}n đối đo lường tính thanh khoản. Hiệu ứng tài chính trong đầu tư thì lớn nhất khi có bất cân xứng thông tin trong thị trường vốn, có khả năng l{ nghiêm trọng nhất đối với các công ty có tỷ lệ giữ lại cao. Tìm thấy này củng cố cho luận điểm rằng những hạn chế tài chính trên thị trường vốn ảnh hưởng đến đầu tư.
Cách tiếp cận của tác giả là nghiên cứu sự khác biệt về t{i chính v{ đầu tư của các nhóm doanh nghiệp có đặc điểm khác nhau. Dữ liệu trong bài được sử dụng ở cấp độ công ty từ Value Line với 421 công ty trong ngành sản xuất Mỹ từ năm 1969 đến 1984, các doanh nghiệp n{y thường lớn và cổ phiếu được niêm yết trên sàn chứng khoán. Tác giả chia các công ty thành 3 nhóm: nhóm 1 bao gồm các công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức dưới 0,1 trong ít nhất 10 năm (có 49 công ty), nhóm 2 bao gồm công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức từ 0,1 và nhỏ hơn 0,2 trong ít nhất 10 năm (39 công ty), nhóm 3 bao gồm các công ty còn lại (334 công ty). Các công ty trả cổ tức thấp được xem l{ đối mặt với hạn chế tài chính vì tác giả cho rằng tỷ lệ chi trả cổ tức là một dấu hiệu của nguồn tài chính bên trong có dồi dào hay không.Vì thế công ty trả cổ tức thấp thì bị xếp vào nhóm bị hạn chế tài chính còn công ty trả cổ tức cao thì không thuộc loại này.