Chọn giống ngô chịu hạn để chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại miền núi phía bắc

Tài liệu nghiên cứu Chọn tạo giống ngô chịu hạn phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho một số tỉnh miền núi phía bắc, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ nông nghiệp

2022

230
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu của đề tài

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.5. Những đóng góp mới của đề tài

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC

2.1. Tổng quan sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam

2.1.1. Tình hình sản xuất và sử dụng giống ngô trên thế giới

2.1.2. Tình hình sản xuất và sử dụng giống ngô ở Việt Nam

2.1.3. Đặc điểm kinh tế, xã hội và tình hình sản xuất ngô ở các tỉnh miền núi phía Bắc

2.1.4. Đặc điểm tự nhiên xã hội vùng miền núi phía Bắc

2.1.5. Tình hình sản xuất ngô ở các tỉnh miền núi phía Bắc

2.1.6. Mục đích yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu cây trồng có ngô ở các tỉnh Miền núi phía Bắc

2.1.7. Tình hình nghiên cứu chọn tạo và sử dụng giống ngô lai chịu hạn

2.1.8. Cơ sở sinh lý, di truyền của tính chịu hạn ở cây ngô

2.1.9. Ảnh hưởng của hạn tới sinh trưởng phát triển và năng suất của cây ngô

2.1.10. Một số quan điểm về chọn tạo giống ngô chịu hạn

2.1.11. Nguồn vật liệu và phương pháp đánh giá lựa chọn ngô chịu hạn

2.1.12. Một số tính trạng hữu ích trong việc nghiên cứu giống ngô chịu hạn

2.1.13. Tình hình nghiên cứu, sử dụng giống ngô lai chịu hạn trên thế giới

2.1.14. Tình hình nghiên cứu, sử dụng giống ngô lai chịu hạn ở Việt Nam

2.1.15. Dòng thuần và một số phương pháp chọn tạo dòng thuần

2.1.15.1. Khái niệm dòng thuần
2.1.15.2. Một số phương pháp chọn tạo dòng thuần

2.1.16. Khả năng kết hợp và phương pháp đánh giá khả năng kết hợp ngô

2.1.16.1. Khả năng kết hợp
2.1.16.2. Phương pháp đánh giá khả năng kết hợp

2.1.17. Đa dạng di truyền và ứng dụng trong chọn tạo giống ngô

2.2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Vật liệu nghiên cứu

2.2.2. Nội dung nghiên cứu

2.2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.2.4.1. Phương pháp đánh giá khả năng chịu hạn của các dòng ở giai đoạn cây con trong điều kiện gây hạn nhân tạo
2.2.4.2. Phương pháp đánh giá đặc điểm nông học, năng suất và khả năng chịu hạn của các dòng trong thí nghiệm điều khiển tưới
2.2.4.3. Phương pháp đánh giá đa dạng di truyền của các dòng nghiên cứu bằng chỉ thị SSR
2.2.4.4. Phương pháp đánh giá ưu thế lai và khả năng kết hợp của các dòng
2.2.4.5. Đánh giá khả năng chịu hạn của các tổ hợp lai luân phiên trong nhà lưới có mái che theo phương pháp Pervez H Zaidi năm 2002
2.2.4.6. Phương pháp xây dựng mô hình giống ngô mới có khả năng chịu hạn tại một số vùng chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở miền núi phía Bắc
2.2.4.7. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đánh giá khả năng chịu hạn của các dòng ở giai đoạn cây con trong điều kiện gây hạn nhân tạo

3.2. Đánh giá khả năng giữ nước và khả năng phục hồi của các dòng

3.3. Đánh giá một số chỉ tiêu liên quan đến khả năng chịu hạn trong chậu của các dòng ngô

3.4. Đánh giá đặc điểm nông học, năng suất và khả năng chịu hạn của các dòng trong thí nghiệm điều khiển tưới

3.5. Thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn của các dòng

3.6. Kết quả theo dõi một số đặc điểm nông học của các dòng ngô

3.7. Đánh giá đa dạng di truyền của 30 dòng ngô bằng chỉ thị phân tử SSR

3.8. Đánh giá khả năng kết hợp của các dòng

3.9. Đánh giá KNKH chung của các dòng bằng phương pháp lai đỉnh

3.10. Đánh giá KNKH riêng của các dòng và ƯTL của các THL bằng phương pháp lai luân phiên

3.11. Đánh giá khả năng chịu hạn của các tổ hợp lai và đánh giá khả năng thích ứng, tính ổn định của tổ hợp lai triển vọng

3.12. Đánh giá khả năng chịu hạn của các tổ hợp trong nhà lưới có mai che vụ xuân 2016

3.13. Đánh giá khả năng thích ứng và tính ổn định của tổ hợp lai triển vọng

3.14. Trình diễn tổ hợp lai chịu hạn trên đất chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở một số vùng miền núi phía Bắc

3.15. Trình diễn tổ hợp lai chịu hạn trên đất ruộng bậc thang tại Nậm Lành - Văn Chấn - Yên Bái

3.16. Trình diễn các tổ hợp lai chịu hạn trong trên đất gò đồi (tăng vụ ngô Thu Đông) tại Võ Nhai – Thái Nguyên

3.17. Trình diễn các tổ hợp lai chịu hạn trên diện tích đất chuyển đổi lúa nương tại Chiềng Sàng, Yên Châu, Sơn La

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH, BÀI BÁO

ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Ngô là một trong những cây lương thực quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp toàn cầu. Tại Việt Nam, ngô đứng thứ hai sau lúa về vai trò trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, năng suất ngô ở Việt Nam vẫn còn thấp so với thế giới, đặc biệt ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi mà sản xuất ngô phụ thuộc nhiều vào nước trời. Việc phát triển giống ngô chịu hạn là cần thiết để giảm thiểu thiệt hại do hạn hán gây ra. Các giống ngô hiện tại có khả năng chịu hạn nhưng năng suất chưa cao, không đủ hấp dẫn cho nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Do đó, việc nghiên cứu và phát triển giống ngô lai chịu hạn, ngắn ngày, năng suất cao là rất quan trọng.

1.1. Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá và tuyển chọn các dòng ngô chịu hạn có đặc điểm nông sinh học tốt, từ đó chọn tạo ra 1-2 giống ngô lai triển vọng phù hợp với điều kiện sinh thái miền núi phía Bắc. Việc này không chỉ giúp tăng năng suất mà còn góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng hiệu quả hơn.

1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài cung cấp các dẫn liệu khoa học về di truyền tính chịu hạn và khả năng kết hợp trong chọn giống ngô. Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo quý giá cho các nghiên cứu và giảng dạy trong lĩnh vực chọn tạo giống ngô lai chịu hạn. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đã xác định được 7 dòng ngô có khả năng chịu hạn tốt, trong đó giống VN636 (GL-797) đã được công nhận cho sản xuất thử, mở ra cơ hội cho nông dân miền núi phía Bắc.

II. Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học

Sản xuất ngô trên thế giới đã có những bước phát triển mạnh mẽ nhờ vào việc áp dụng các giống ngô lai và kỹ thuật canh tác tiên tiến. Theo FAO, diện tích trồng ngô toàn cầu đạt 201,983 triệu ha với sản lượng trên 1.162 triệu tấn vào năm 2020. Tại Việt Nam, mặc dù năng suất ngô đã tăng lên nhưng vẫn còn thấp so với trung bình thế giới. Đặc biệt, ở miền núi phía Bắc, sản xuất ngô gặp nhiều khó khăn do điều kiện khí hậu khắc nghiệt và phụ thuộc vào nước trời. Việc phát triển giống ngô chịu hạn là một giải pháp cần thiết để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho nông dân.

2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới

Sản xuất ngô trên thế giới luôn được quan tâm và phát triển nhờ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Mặc dù diện tích trồng ngô không tăng mạnh nhưng sản lượng vẫn liên tục tăng trưởng nhờ vào năng suất được cải thiện. Nhu cầu ngô tăng do dân số phát triển nhanh và thu nhập bình quân đầu người cải thiện, dẫn đến việc tiêu thụ ngô cho chăn nuôi tăng cao.

2.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam

Tại Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa. Tuy nhiên, năng suất ngô ở miền núi phía Bắc vẫn còn thấp, chỉ đạt 40,3 tạ/ha vào năm 2020. Việc phát triển giống ngô chịu hạn, ngắn ngày và năng suất cao là cần thiết để cải thiện tình hình sản xuất ngô tại đây.

III. Đánh giá khả năng chịu hạn của các dòng ngô

Đánh giá khả năng chịu hạn của các dòng ngô là một phần quan trọng trong nghiên cứu. Các dòng ngô được thử nghiệm trong điều kiện hạn nhân tạo để xác định khả năng giữ nước và phục hồi. Kết quả cho thấy một số dòng như H4, H18 và H29 có khả năng chịu hạn tốt, rất có giá trị trong việc chọn tạo giống ngô lai chịu hạn. Việc đánh giá này không chỉ giúp xác định các dòng ngô tiềm năng mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho việc phát triển giống ngô mới phù hợp với điều kiện khí hậu miền núi phía Bắc.

3.1. Phương pháp đánh giá

Phương pháp đánh giá khả năng chịu hạn bao gồm việc theo dõi sự phát triển của các dòng ngô trong điều kiện hạn nhân tạo. Các chỉ tiêu như khả năng giữ nước, khả năng phục hồi và năng suất được ghi nhận để đánh giá hiệu quả của từng dòng. Kết quả cho thấy rằng việc áp dụng các phương pháp này giúp xác định chính xác khả năng chịu hạn của các dòng ngô.

3.2. Kết quả đánh giá

Kết quả đánh giá cho thấy rằng các dòng ngô H4, H18 và H29 có khả năng chịu hạn tốt và năng suất cao. Những dòng này không chỉ có khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu khắc nghiệt mà còn có tiềm năng lớn trong việc phát triển giống ngô lai chịu hạn cho miền núi phía Bắc. Việc sử dụng các dòng này trong sản xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngô là cây lương thực có vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp toàn cầu và có tốc độ tăng trưởng cao nhất về năng suất cũng như sản lượng. Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực có vị trí quan trọng thứ 2 sau cây lúa. Năm 1980, năng suất ngô nước ta chỉ bằng 34% so với trung bình thế giới, năm 1990 bằng 42%, năm 2000 bằng 59,8%, năm 2005 bằng 74,4% và năm 2010 đạt 80,8% [14].

Giai đoạn từ 2005 đến 2015, sản xuất ngô trong nước có xu hướng tăng và từng bước ổn định, hình thành ngành sản xuất lớn với những thành tựu vượt bậc trên cả 3 phương diện: diện tích, năng suất, sản lượng, đưa nước ta đứng vị trí thứ 59/166 về năng suất trong các nước trồng ngô. Năm 2020, nhập khẩu ngô của Việt Nam chính thức vượt qua mốc 12 triệu tấn, đã hoàn toàn vượt qua các mốc nhập khẩu rất quan trọng trong 2 năm về trước là mức 10 triệu tấn năm 2018 và 11 triệu tấn năm 2019. Như vậy, cũng như nhiều nước đang phát triển khác, Việt Nam đang phải nhập khẩu ngô, mặc dù năng suất ngô năm 2020 đã đạt 48,7 tạ/ha, song so với năng suất trung bình của thế giới (5,64 tấn/ha) thì năng suất ngô của Việt Nam còn rất thấp. Một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất ngô ở Việt Nam là do ngô chủ yếu được trồng trên đất dốc (> 60% diện tích) tập trung ở vùng trung du miền núi phía Bắc.

Sản xuất ở những vùng này phụ thuộc chủ yếu vào nước trời. Năm 2020, diện tích ngô của vùng Trung du miền núi phía Bắc là 426,4 nghìn ha, năng suất ngô của vùng chỉ đạt 40,3 tạ/ha, bằng 83,3% so với trung bình cả nước. Ở vùng này cây ngô thường bị hạn ở giai đoạn đầu vụ Hè Thu và giai đoạn trỗ cờ tung phấn của vụ Thu Đông. Do vậy, cần có một bộ 2 giống ngô lai chịu hạn, ngắn ngày, năng suất cao phục vụ sản xuất ngô của các tỉnh miền núi phía Bắc để giảm thiệt hại do hạn hán gây ra.

Trong những năm gần đây các nhà khoa học đã nghiên cứu nhiều về giống có khả năng chịu hạn, những giống ngô lai chịu hạn trong nước hiện nay như LVN99, LVN885, AG59. tuy có khả năng chịu hạn, phù hợp cho việc chuyển đổi nhưng năng suất còn thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao nên chưa hấp dẫn người nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang trồng ngô. Một số giống cho năng suất cao, chịu hạn tốt như: VN8960, NK67, DK9901. nhưng lại có thời gian sinh trưởng quá dài, khó khăn cho cơ cấu tăng vụ do vậy khó áp dụng cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở miền núi phía Bắc.

Vì vậy, để chuyển đổi cơ cấu cây trồng có ngô kém hiệu quả sang cơ cấu cây trồng hiệu quả kinh tế cao hơn, cần có một bộ giống ngô lai chịu hạn năng suất cao, ngắn ngày phù hợp cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng kém hiệu quả sang sản xuất ngô hiệu quả hơn, tăng diện tích và sản lượng ngô, giảm nhập khẩu, tiết kiệm chi phí ngoại tệ cho Nhà nước. Ở các tỉnh miền núi phía Bắc có một diện tích rất lớn đất có thể sử dụng giống ngô chịu hạn để chuyển đổi cơ cấu, tăng vụ như: Đất trồng một vụ ngô Hè Thu muộn bỏ hóa vụ Thu Đông, gieo vào nửa cuối tháng 4 đầu tháng 5 thu hoạch vào tháng 8 ở hầu hết các huyện Sơn La và một số huyện vùng cao của Thái Nguyên như Đại Từ, Định Hóa, Võ Nhai. Cơ cấu vùng này có diện tích lớn, nếu trồng thêm 1 vụ Thu Đông cần có giống ngô chịu hạn vì cuối vụ (cuối tháng 11 đầu tháng 12) gặp hạn và rét; Đất 2 vụ ngô muốn có năng suất cao nên sử dụng giống chịu hạn trồng vụ ngô Xuân Hè gieo đầu tháng 3 tránh hạn và rét đầu năm, thu hoạch vào đầu tháng 7 sau đó trồng ngô vụ Thu Đông gieo cuối tháng 7 đầu tháng 8 thu hoạch tháng 11, cơ cấu vùng này ở vùng núi thấp, trồng ở các bãi ven sông lớn như dọc sông Đà ở Sơn La và một số suối lớn ở Phù Yên, Mộc Châu, dọc sông Cầu, 3 sông Công ở Thái Nguyên; Đất ruộng bậc thang chỉ trồng được một vụ lúa Mùa (cấy lúa vào 10-20 tháng 6), bỏ hóa vụ Xuân do hạn hán đầu vụ. Nên có thể chuyển sang trồng 2 vụ ngô/năm bằng việc sử dụng giống chịu hạn để có hiệu quả kinh tế cao hơn; Ngoài ra, với những diện tích lúa hiệu quả thấp có thể chuyển đổi sang trồng ngô chịu hạn thay thế sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Chọn tạo giống ngô chịu hạn phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho một số tỉnh miền núi phía Bắc”. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá, tuyển chọn được một số dòng ngô chịu hạn, có đặc điểm nông sinh học và khả năng kết hợp tốt phục vụ công tác chọn tạo giống ngô lai chịu hạn. - Chọn tạo được 1 – 2 giống ngô lai triển vọng có khả năng chịu hạn, năng suất cao thích hợp với điều kiện sinh thái và một số cơ cấu cây trồng ở vùng miền núi phía Bắc. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học của đề tài: + Cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị về di truyền tính chịu hạn, khả năng kết hợp và mối tương quan giữa khả năng chịu hạn với đặc điểm nông sinh học trong chọn giống ngô lai chịu hạn; + Kết quả nghiên cứu của luận án cũng là tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy có giá trị trong chọn tạo giống ngô lai chịu hạn và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ trong tái cơ cấu ngành trồng trọt ở các tỉnh miền núi phía Bắc.

4 - Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: - Kết quả nghiên cứu đã xác đinh được 7 dòng có khả năng chịu hạn tốt và KNKH cao về năng suất là H4, H11, H18, H21, H24, H27, H29, trong đó 3 dòng H4, H18 và H29 là những dòng có KNKH cao, rất có ý nghĩa và đặc biệt có giá trị khi sử dụng là cây thử trong chương trình chọn tạo giống ngô lai chịu hạn. - Chọn tạo được 1 giống ngô lai mới chịu hạn, năng suất cao, thích hợp với điều kiện sinh thái của vùng miền núi phía Bắc Việt Nam là VN636 (GL-797). Giống ngô lai VN636 (GL-797) đã phù hợp với cơ cấu cây trồng trên đất tăng vụ ngô và đủ điều kiện mở rộng qui mô. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài + Đề tài được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá 30 dòng ngô tự phối được chọn tạo ra bằng phương pháp truyền thống (tự phối kết hợp fullsib) từ các quần thể tự tạo của Viện Nghiên cứu Ngô, một số giống ngô lai thương mại NK66, NK67, PA33, CP999, 30Y87 và B9698 được ký hiệu từ H1-H30.

+ Tổ hợp lai đỉnh (topcross) tạo ra từ các dòng thuần của đề tài và đối chứng là giống ngô chịu hạn VN8960, NK4300 đang được trồng phổ biến ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Những đóng góp mới của đề tài - Đưa ra những khuyến cáo về vật liệu phù hợp cho chương trình chọn tạo dòng, giống ngô chịu hạn, thích hợp cho điều kiện các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam, là cơ sở cho chọn tạo và cải tiến các vật liệu chọn tạo giống ngô cho các vùng chuyên biệt. 5 - Xác định được 7 dòng có khả năng chịu hạn và KNKH cao ở chỉ tiêu năng suất là: H4, H11, H18, H21, H24, H27, H29 bổ sung vào nguồn vật liệu ưu tú phục vụ công tác chọn tạo giống ngô lai chịu hạn. - Đã xác định được một số tổ hợp lai ưu tú thử nghiệm cho sản xuất, trong đó tổ hợp lai VN636 (H29 x H24) được khảo nghiệm ở nhiều vùng sinh thái, đặc biệt là ở các vùng miền núi phía Bắc có điều kiện hạn và đã có kết quả tốt, được Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận cho sản xuất thử với tên là GL-797 theo Quyết định số 460/QĐ-TT-CLT ngày 31/12/2019.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Tổng quan sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và sử dụng giống ngô trên thế giới Sản xuất ngô trên thế giới luôn được quan tâm và ngày càng phát triển nhờ vị trí vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Mặc dù trong những năm gần đây diện tích trồng ngô trên toàn cầu không tăng mạnh như cuối thế kỷ XX do diện tích canh tác có giới hạn nhưng sản lượng ngô trên thế giới vẫn liên tục tăng trưởng, nguyên nhân chính là do năng suất ngô ngày càng được cải thiện nhờ áp dụng các giống ngô lai và các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến vào sản xuất.

Theo số liệu của Tổ chức Nông Lương Thế Giới (FAO), năm 2020 diện tích trồng ngô trên thế giới đạt 201,983 triệu ha và sản lượng đạt trên 1.162 triệu tấn, sản xuất ngô trở thành một trong những ngành hàng quan trọng của nền kinh tế thế giới với tổng lượng ngô xuất khẩu lên tới 192 triệu tấn năm 2020 [57]. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2009-2020 Năm Diện tích (triệu ha) Sản lượng (triệu tấn) 2009 159 821 2010 165 852 2011 172 887 2012 180 876 2013 187 1.162 Nguồn: FAO, 2020 [57] Qua bảng 1.1 cho thấy rằng diện tích trồng ngô trên thế giới tăng nhanh qua các năm, trong năm 2009 diện tích trồng ngô là 159 triệu ha đến 7 năm 2020 là 201 triệu ha, sản lượng ngô tăng từ 821 triệu tấn năm 2009 lên 1. Tổ chức Nông Lương Thế Giới khuyến cáo, trong tương lai sản xuất lương thực sẽ cần phải tăng 75% mới có thể cung cấp đủ lương thực cho 9,7 tỷ người vào năm 2050. Áp lực trong sản xuất nông nghiệp của thế giới về nhu cầu lúa mì, lúa nước và ngô tăng mạnh, FAO dự kiến sản lượng ngũ cốc cần toàn cầu trong năm 2021 cần khoảng 2,8 tỷ tấn (trong đó nhu cầu về ngô sẽ tăng lên 50-60%).

Nhu cầu ngô tăng do dân số phát triển nhanh, thu nhập bình quân đầu người được cải thiện nên việc tiêu thụ thịt, cá, trứng, sữa tăng mạnh, dẫn đến lượng ngô dùng cho chăn nuôi tăng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Giống ngô chịu hạn cho chuyển đổi cây trồng miền núi phía bắc" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các giống ngô có khả năng chịu hạn, rất phù hợp cho điều kiện khí hậu khắc nghiệt của miền núi phía bắc Việt Nam. Nội dung bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuyển đổi cây trồng để nâng cao năng suất và đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các giống ngô mới, kỹ thuật canh tác và lợi ích kinh tế mà chúng mang lại cho nông dân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp canh tác và ảnh hưởng của phân bón đến cây trồng, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến sinh trƣởng phát triển của giống đậu tương dt84 vụ xuân 2017 tại thái nguyên". Ngoài ra, bài viết "Luận án nghiên cứu hiệu lực trực tiếp và hiệu lực tồn dư của phân vô cơ đa lượng đối với lúa ngô cà phê làm cơ sở cân đối cung cầu phân bón ở việt nam" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp. Cuối cùng, bài viết "Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh quế lâm đến sinh trưởng phát triển của giống lúa hương chiêm tại thị xã nghĩa lộ tỉnh yên bái" sẽ cung cấp thêm thông tin về tác động của phân hữu cơ đến sự phát triển của cây trồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp canh tác hiệu quả trong nông nghiệp hiện đại.