Chương 1. Những vẫn dé lý luận vẻ giới han tu do hợp đồng trong hoạt đồng, thương mại và pháp luất vé giới han tự do hop đẳng trong hoat động thương mai Chương 2. Thực trang pháp luật về giới hạn tư do hợp đẳng trong hoạt động, thương mại Chương 3. Phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiên pháp luật vả nâng cao "hiểu quả thí hành pháp ludt vẻ giới han tự do hợp đẳng trong hoạt động thương mai ở Việt Nam.
7 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU DE TÀI 1. TÔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Giới hạn tw do hợp đồng là một trong những nội dung được nhiều học giả trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Nghiên cứu các công trinh là sách chuyên khảo, giáo trinh, ludn án, các bai đăng tạp chí ở trong nước vả ngoi nước có liên quan, NCS tập trung nhân xét và đánh giá sự liền quan của các công tình. nghiền cửa nay đối với nội dung của luên án theo những van để cơ bản sau đây.
Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận về giới hạn tự do hợp dong và pháp luật về giới hạn or do hop đồng trong hoạt động tưng mi Thứ nhất các công trình nghiên cứ liên quan đến khái niệm và đặc điểm hop đông trong hoạt động thương mai Trong cuốn sách chuyên khảo: “Một số hợp đồng đặc thù trong hoạt đông Thương mat và if năng đầm phản, soạn thdo do tác già Nguyễn Thi Dung làm chủ biên, Nha xuất bản (NXB) Công an nhân dân năm 2012, nhóm tác giả cho rằng khái niêm hợp đồng trong hoạt động thương mại mang tính chất tương đối vả chưa được luật hứa trong các văn bản quy pham pháp uất. Nhóm tác giã khẳng định khí BLDS (2005) được ban hành đã tao ra sự thống nhất trong việc điều chỉnh quan hệ hop đồng và các hop đồng phát sinh trong moi lĩnh vực cụ thể đều được điểu chỉnh. Hop đồng trong hoạt đông thương mai là mốt loại hop đồng dân sự nhưng nó có đặc trừng rigng Dựa trên những đặc trưng chỉ có trong hoạt động thương mai, nhóm tác giã đưa ra một khái niệm cụ thé về hợp đẳng trong hoạt động thương mai như sau: “Hop đẳng trong hoạt đông thương mat là sự thỏa thận giữa các thương nhân hoặc giữa thương nhân với người có liên quan về việc xác lập, thay đãi hoặc ché cit quyền và nghia vụ trong hoat đông thương mat của mabah Ngoài việc đưa ra khái niệm hop đồng trong hoạt đồng thương mai, công trình của nhóm tác giả còn để cập đến đặc trừng của loại hợp đẳng này như thành phản chủ thể, mục đích hợp đông va tính dén bù của hợp đông. Trong giáo trình “Ludt Thương mat Việt Nam - tập 2°, do tác gã Nguyễn Viết Ty va Nguyễn Thi Dung là đồng chủ biển, NXB Tu pháp năm 2017, các tắc giả thể hiện quan điểm của minh vẻ khải niệm hợp đồng trong hoạt động thương, mai dựa trên nhiễu tiêu chí khác nhau.
Các tác gid cùng thống nhất quan điểm: “Hop đồng trong lĩnh vực thương mai là hợp đồng dân sự đặc thì. Hop đồng dân 8 sựvà hop đồng trong lĩnh vực thương mat cỏ quan hệ biện ching và đây là mỗt quan lộ giữa cái chung và cái riêng. Trong đó, hop đồng dân sự là cái chung. cồn hop đồng trong lĩnh vực thương mat là cái riêng, Trong bai viết “Hop đồng thương mại và pháp luật về hợp đồng thương mat của môi số nuốc trên thé giới" của tae giã Vũ Thi Lan Anh được đăng trên tạp chi Luật học số 11 năm 2008, tác giả phân tích hợp đồngthương mại ở Việt Nam trước ngây 1/1/2006 và sau ngày 1/1/2006.
Trước ngây 1/1/2006, các hợp ding được phân biết thành hop đồng dân sự vả hop đồng lanh tế. Các quan hệ hop đồng kinh tế được điều chỉnh bởi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (1989), quan hệ hợp đồng dân. sự được điểu chỉnh bởi Pháp lệnh hợp đồng đến sự (1991) va từ ngày 1/7/1996 được điều chỉnh bằng BLDS (1995). Năm 2005, BLDS (2005) được ban hảnh va có hiệu lực từ ngày 1/1/2006.
Ké từ thời điểm này, khái niệm hợp dong kinh tế không, còn tổn tại. Moi hợp đồng đều được gọi chung là hợp đồng dân sự va chịu sự điều chỉnh của BLDS (2005). Cũng trong bai viết nay, tác gid còn tình bảy quan điểm về hợp đồng thương mai của các quốc gia khác nhau, thi dụ Bộ luật Thương mại Đức đã không đưa ra khái niệm hợp đồng thương mai, cũng không phân biết hop đồng thương mai và hợp đồng dân sư Những hợp đồng nào được xác lập từ hành wi thương mại sẽ chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Thương mại. Để phân biết hành vi thương mại va với hành vi dân sự, Điểu 343 Bộ luật Thương mai Đức sắc định "hành vi thương mại là mọi hành vi của thương nhân gắn lién với việc tiến hành hoạt đồng kinh doanh của mình.
Ngoài ra, trong quy định của Bé luật Thương mai Đức còn quy định một số hành vi không phải do thương nhân thực hiện nhưng van mang bên chat của hành vi thương mại (Điểu 1), Bộ luật Thương mai Hoa Kỳ (UCC) cũng không đưa ra khải niệm cụ thể về giao dịch thương mại hay hợp đồng thương, mai, ma chỉ đưa ra những quy định về giao kết hợp dong, vẻ diéu kiện mua ban hàng hóa, các biện pháp đâm bảo mua bán hang hóa. Luét hợp ding của Trung Quốc (1999) thông nhất điều chỉnh moi hop đồng cho dù chúng phát sinh từ đời sống, tiêu ding hay sản xuất kinh doanh, nghĩa là cũng không có sự phân biệt hop đồng thương mại và hợp đẳng dân sự Bên canh đỏ, tác giả còn chỉ ra những đặc điểm cơ bản của hợp đẳng trong hoạt động thương mại được thể hiện qua các yếu. tổ như chủ thể (các bên hoặc it nhất một bén là thương nhân), tinh bẳi hoàn của hop đồng và mục đích tim kiếm lợi nhuận thường xuyên của các chủ thể, 9 Trong cuốn sách chuyên khảo “Một số vấn để cơ bản về hop đẳng thương mại đáp từng yêu câu hội nhập kinh tế quốc tổ”, do tac gia Vũ Quang lam chủ biên, NXB Bach Khoa Hà Nội năm 2016, tác giã không chỉ đưa ra khái niệm hợp đồng thương mai mà còn chỉ ra những đấc trưng cơ bản của hợp đồng thương mai vẻ chủ thể, về đôi tượng, pham vi hop ding. Đồng thời, tác giả cũng tập trung nghiên cứu và phân tích một sô hợp đồng thương mai thông dung trong điều kiện hội nhập, Giáo tình của Khoa luật, Trường đại học Tổng hợp Saint Petersburg “ÑluMapacKoE 'pdeo 34p}6e3ewix conpaM” (tam dich: Luật thương mat nước godt) với chủ biên là [Ionosponyno B.
SP, 2005, tr 235, khi nghiên cứu vẻ pháp luật của các nước theo truyền thống Anh Mỹ cho ring ở các nước nảy không có sự phân biét pháp luật dân sự với pháp luất thương mai và cũng không phân biết hành vi thường mại với hành vi dân sự, vì vay không có sự phân biệt khái niêm hợp đồng thương mai và hợp đồng dân sự Do đó các quy dinh vẻ pháp luật hợp đẳng được áp dụng chung thống nhất trong mọi lĩnh vực ‘Nhu vậy, khi bản về khái niệm về hợp đông trong hoạt động thương mại, các. công trinh nghiên cứu trong nước và ngoài nước déu chỉ ra rằng không có quy đính cụ thể của pháp luật về khái niệm hợp đồng trong hoạt động thương mại. ra khái niệm nảy của một số học giả vả trong quy định của một số quốc gia chỉ mang tính chất tương đối. Đôi với đặc điểm của hợp đông trong hoạt động thương.
"mai, các công trình déu chi ra những điểm đặc thù tạo nên sự khác biệt của loại hop đồng nay so với hợp đẳng dân sự Thứ hai, các công trành nghiên cứu liên quan đến khái niệm và đặc điểm pháp luật về giới hạn tự do hop đồng trong hoạt động thương mai ‘Theo quan điểm của các học gia trong nước va ngoài nước, khái niệm pháp luật VỀ giới han tu do hợp đồng trong hoat động thương mai là một nội dung chưa được pháp Iuét quy định cu thé Nhìn chung, các hoc giả nhìn nhân va đánh giá khái niềm. pháp luật về giới hạn t do hợp đồng nói chung và trong hoạt động thương mai nói tiếng được dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật vẻ giới hạn quyên con người, trong đó có sử giới hạn quyển tự do lanh doanh, quyển tự do hợp đồng: - Bai vidt“Constitutional Limitations on Freedom of Contract: What can the German teach us (tam dich: Nhing hạn chế về tự do hop đồng trong Hiến pháp. Người Đức có thé day gì cho cining ta) của tác giã Raymond Youngs, Anglo — American Law Review 29 năm 2000, đưa ra những trường hợp phải han chế tự do 10 hợp đồng trên cơ sở quy định pháp luật của CHLB Đức, Vương quốc Anh, Công ude Châu Âu về quyên con người Ở CHLB Đức, việc hạn chế tự do hợp dong được thể hiện trong Hiển pháp, đặc biệt trong trường hợp không có sự nhất quán. giữa các quy định.
Trong pháp luật của Vương quốc Anh, việc han chế tự do hop đồng dua trên các quyền cơ bản của cá nhân và các quy định của hợp đồng, Quyền cơ ban của cả nhân được đặt ra nhưng cũng cần phải có những giới hạn quyển cơ bên nảy trong mỗi quan hệ với mỗi quan hệ khác, Trong Công ước Châu Âu về quyển con người, quyển tư do ký kết hợp ding được coi là một nội dung quan trọng của Công ước. Tuy vậy, điều này cũng bị hạn chế khi một giao dich bị coi là Vô hiểu, nếu trái với đạo đức tắt dep (good morality) - Cũng tương đẳng với quan điểm nêu trên, trong bai viết “Reasons for limiting #eedom of Contract: Questions of philosophy and policy” (tan dịch Những nguyên nhân han chế tự do hợp đồng: Các vẫn đả If luận và chính sách) của tác giả Peter Cseme (2003)! cũng thể hiện quan điểm cho rằng các quy định của pháp luật để giới han tự do hợp đông của chủ thể là cẩn thiết, đặc biệt khi luật hop dong được đặt trong mồi liên quan tới một tập hợp rộng lớn các giá trị kinh tế, xã hội va chính trị. Mặc di tự do kinh tế trong nên kink tế hiện đại vẫn được để cao, nhưng tác giả nhận thay vẫn còn tôn tại nhiều “vấn để guy phạm rắc rắt và có. khả năng gậy chia rế”, nghĩa là các quy định của pháp luật hợp đồng không phủ hợp với sự phát triển anh tế, chính trị và sã hội.