Chương 1 giới thiệu tới người học những kiến thức tổng quan nhất về văn hóa, văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp. Việc tiếp cận các vấn đề lý luận theo 3 lớp giá trị văn hóa giúp người học hóa hiểu một cách căn bản và sâu sắc về các nội dung của văn hóa, văn kinh đoanh và văn hóa đoanh nghiệp. Sau khi học xong chương này, người học sẽ hiểu được các khái niệm cơ bản về văn hóa, văn hóa kinh hóa doanh, văn hóa doanh nghiệp; vai trò, chức năng của văn hóa, văn doanh nghiệp; các yếu tổ cầu thành văn hóa và văn hóa doanh nghiệp. Bên cạnh kiến thức lý thuyết phong phú, người học được rèn luyện các kỹ năng lập luận, phân tích, đánh giá thông qua việc vận dụng lý thuyết vào phân tích các vi dụ, tình huống thực tiễn phong phú về văn hóa và văn hóa doanh ng]iệp.
TINH HUONG MG DAU Matsushita la cing y inthứ. 59 thếgi (theo Forbes Global50), thuộc top 20 cing wha doant sốisinphnci din, Nain 20 O15, ang y ang Thú6 trong fp.30 (hươngliệu tốtnhất Phật Bắn, ị Ttuổi Nam 18tuấy ong! ( tlc my sn tới ben phối hệ nok. Ong vennc (6 trong tay 100 m tn navel tới hài q ;của Mafsushit 1. KHÁI NIỆM, YẾU Tố CẤU THÀNH VÀ VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA 1.
Khái niệm “văn hóa” khoa học “Văn hóa” là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong cũng như trong đời sống xã hội. Văn hóa tồn tại đưới nhiều đạng của cuộc sống thức khác nhau, phản ánh mọi mặt, mọi khía cạnh định nghĩa theo con người. Hiện nay, văn hóa được tiếp cận và nhiều nghĩa biểu khác nhau. Theo cách tiếp cận về ngôn ngữ, thuật ngữ “văn hóa” có nguồn gốc từ phương Tây, trong tiếng Latinh là “Cultus” cé nghia la gieo p trồng ruộng đất, khai hoang, trằng trọt nhằm phát triển nông nghiệ “Cultus” sau (văn hóa trong, tiếng Anh và tiếng Pháp là “culture”).
giáo đó được mở rộng trong lĩnh vực xã hội với nghĩa là vun trồng, sử dục, bồi dưỡng tâm hồn, khả năng của con người. Trong lịch trọng trong phát triển của phương Tây, văn hóa đóng vai trò quan nhân cách các hoạt động bồi dưỡng, vun đắp giá trị tính thần và thể con người. Những công trình kiến trúc tiêu biểu và nổi trội nhất hiện giá trị độc đáo của văn hóa phương Tây có thé ké đến là kiến khoa học trúc Hy Lạp, La Mã cổ đại.; các nghiên cứu và kiến thức các công trình và đồ sộ trong lĩnh vực toán học, hóa học, vật lý. và hội họa, điện tác phẩm văn hóa nghệ thuật đặc sắc trong văn học, ảnh.
để lại cho xã hội loài người. Ở phương Đông, các nước ở châu Á chịu ảnh hưởng rất lớn của triết lý, đạo lý sâu sắc của các nền văn hóa, văn minh nổi tiếng. Khái niệm văn hóa theo được ghép từ hai từ VĂN và HÓA, Trong tiếng Hán cổ, VĂN là vẻ đẹp, là cái hay, cái tốt, ý nói đến vẻ đẹp của trí thức, của nhân cách, trí tuỆ con người; HÓA là hành động mang tính biến đổi, giáo dục, cảm hóa giúp con người trở nên hướng thiện, hướng đến những điều có ích, có nghĩa. Văn hóa là dùng những điều đẹp đế (đức, văn, lễ, nhạc) để giáo hóa con người.
Sản phẩm của văn hóa là những thành quả giá trị, sáng tạo của loài người trong lịch sử. Nhắc đến văn hóa phương Đông là nhấc đến các nền văn hóa văn minh nổi tiếng như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ,Á rập, Trung Hoa., với các đạo lý của Nho giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Hindu giáo và các tín ngưỡng bản địa mang màu sắc phươ ng Đông. Rất nhiều công trình văn hóa kỳ vĩ của thế giới để lại cho nhân loại tập trung tại châu Á như: Vạn lý Trường Thành, Angk or 'Wat, Kim tự tháp Ai Cập cùng các thành tựu văn hóa khác trong các lĩnh vực triết học, tôn giáo, ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật. Như vậy, theo cách tiếp cận về ngôn ngữ, khái niệm văn hóa ở các nước phương Đông cũng đồng nghĩa với các nước phương Tây khi nhắn mạnh văn hóa là sự giáo héa, oun trồng nhân cách con ngudi, là chú trọng hoạt động bồi dưỡng, phát triển giúp cho cuộc sống của con người trở nên tốt đẹp hơn.
Văn hóa là toàn bộ các hoạt động của con người nhằm tạo ra các giá trị Chân, Thiện, Mỹ. Ngày nay, văn hóa được định nghĩa theo nhiều khía cạnh và cách hiểu khác nhau, tùy thuộc theo mục đích, phạm vị, đối tượng, lĩnh vực nghiên cứu. + Xết về phạm vi, theo nghĩa rộng, “văn hóa là tất cả những gì con người tạo ra để phục vụ cuộc sống” hay “văn hóa là nhữn g giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử” (Nguyễn Như Ý, 1998); hoặc “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tỉnh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (Tran N goc Thém, 1996). Theo nghĩa hẹp, văn hóa thường được giới hạn theo lĩnh vực, không gian, thời gian hoặc chủ thể.
Theo lĩnh vực, trước đây văn với hóa thường được gắn liền với văn hóa nghệ thuật dé phan biệt của nễn kinh các ngành, lĩnh vực kinh tế, khoa học — kỹ thuật khác tế. Ngày nay, văn hóa bao gồm nhiều lĩnh vực cụ thể như văn hóa. ẩm thực, văn hóa du lịch, văn hóa kiến trúc, văn hóa kinh đoanh: Theo vùng miễn, văn hóa nhắc tới những giá trị đặc trưng của từng phương -_ vùng, địa phương như: văn hóa phương Đông, văn hóa với Tây; văn hóa Bắc Bộ. Theo thời gian hay niên đại, văn hóa gắn và” những giá trị theo từng giai đoạn phát triển của xã hội loài người có thể được chia thành văn hóa truyền thống, văn hóa đương đại, văn hóa hiện đại; theo chủ thể, văn hóa được sử dụng để phân biệt giá trị đặc trưng của từng nhóm chủ thể như văn hóa doanh nghiệp, văn hóa đân tộc, văn hóa đại chúng.
+ Theo hình thức biểu hiện: văn hóa được sử dụng để thể hiện hóa vật những giá trị đặc sắc theo sản phẩm, hình thức như văn chất và tính thần, hay văn hóa vật thể (như danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, cổ vật.) và văn hóa phi vật thể (như tiếng nói, chữ viết, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, nghề thủ công truyền thống. + Theo lý thuyết hệ thống - cầu trúc, văn hóa là hệ thống gồm nhiều phân hệ thống nhất với nhau, với hai cấp độ chính là: Văn hóa dân tộc và tiểu văn hóa của các tổ chức xã hội nhỏ hơn. Tiếp cận một cách tổng thể, UNESCO (1986) đã đưa ra định nghĩa về văn hóa nhắn mạnh vào khía cạnh sáng tạo trong văn hóa của mỗi dân tộc: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sắng tạo của thé kj, hoạt các cá nhân oà các cộng đồng trơng quá khứ, hiện tại. Qua các thắng động sắng tạo dy da hinh thành niên một hệ thông các giá trị, các truyền mỗi dân tộc".
tà cách thể hiện, đó là những yếu tô xác định đặc tính riêng của Định nghĩa này khẳng định văn hóa là tổng thể những hoạt động sáng tạo của con người, hình thành nên các giá trị, các quan niệm, .thói quen truyền thống, các chuẩn mực xã hội. Những giá trị vật chất và tỉnh thần này được kết tỉnh, lắng đọng từ thực tiễn cuộc sống của bản sắc con người trong cả quá khứ và hiện tại, tạo nên đặc trưng, riêng của mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng người. Văn hóa do con người đều là kiến tạo nhưng không phải hoạt động nào của con người cũng văn hóa, mà chỉ có những hoạt động tạo thành giá trị, được chọn lọc, được cộng đồng chấp nhận, được duy trì và ổn định qua thời gian thì mới là văn hóa. Nhắc tới văn hóa là nhắc tới Chân, Thiện, Mỹ - các giá trị tạo nên đặc trưng và sự khác biệt của mỗi dân tộc, Văn hóa vừa là sản phẩm sáng tạo của con người, vừa là giá trị tạo nên cuộc sống của con người và sự tiến bộ của nhân loại, Khái niệm này được nhóm tác giả biên soạn chọn là định nghĩa chính về văn hóa, làm cơ sở nghiê n cứu các vẫn đề tiếp theo trong giáo trình.
Trải qua lịch sử hơn bốn nghìn năm xây đựng và phát triển với 54 dân tộc anh em cùng chung sống, Việt Nam có một nền văn hóa độc đáo, đậm đà bản sắc đân tộc. Đó là những giá trị, truyền thống văn hóa đặc sắc mà mỗi người dan Việt Nam dé đàng cảm nhận qua những thói quen, nếp nghĩ, cách sống. rất gần gũi và sâu sắc. Đó có thể là những phong tục, tập quán được duy trì hàng ngày như phong tục gói bánh Chưng, bánh Tét ngày tết, tục cúng giao thừa đầu năm mới.; các lễ hội truyền thống như lễ hội Lồng Tổng, lễ hội Đền Hùng, hội đua voi.
Văn hóa dân tộc cũng thể hiện những giá trị, những chuẩn mực đạo đức được cha ông đúc kết qua các câu ca đao, tục ngữ thân quen như: “Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ. Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”, “Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba” (ca đao, tục ngữ về phong tục tập quán); “Đới cho sạch, rách cho thơm”, “Giầy tách phải giữ lấy lễ” (nói về phẩm chất, đạo đức con người); “Lời nói không mắt tiền mưa. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo” (ca dao, tục ngữ dạy dỗ con người).
Văn hóa cũng được thể hiện rất rõ qua các đi sản văn hóa vật thể như: Hoàng Thành Thăng Long, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn. và đi sản văn hóa phí vật thể đặc trưng như Dân ca quan họ Bắc Ninh, Nhã nhạc cung đình Huế, Hội Gióng ở đền Phù Đồng. Các yếu tố cấu thành văn hóa Văn hóa là một lĩnh vực phúc tạp, phản ánh mợi khía cạnh, mọi hoạt động của đời sống của con người vì vậy, các yếu tố thể hiện văn hóa rất đa dang. Dé giúp người đọc hiểu rõ khái niệm về văn hóa, đồng thời thống nhất cách tiếp cận của văn hóa với vấn quản trị hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp theo góc độ của thành kinh doanh, giáo trình cầu trúc các yếu tố cầu thành văn hóa và lớp 3 lớp, bao gồm lớp văn hóa hữu hình, lớp văn hóa chuẩn mực văn hóa mang tính quan niệm (Hình 1.