CHƯƠNG V TƯ TƯỞNG HO CHÍ MINH VE BAI DOAN KET DÂN TỘC VA DOAN KET QUỐC TẾ 1. TƯ TƯỞNG HỖ CHÍ MINH VỀ ĐẠI DOAN KET DAN TOC 1. Vai trò của đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cach mang * a) Dai đoàn kết dân tộc là vẫn dé có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong thời đại mới, để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tỉnh thần yêu nước thì chưa đủ; cách mạng muốn thành công và thành công đến nơi, phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Chính vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu đài, xuyên suốt tiến trình cách mạng.
164 Để quy tụ được mọi lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân, cần phải có chính sách và phương pháp phù hợp với từng đối tượng. Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau, chính sách và phương pháp tập hợp có thẻ và cần thiết phải điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng khác nhau, song đại đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề sống còn, quyết định thành bại của cách mang. Chính sách Mặt trân của Đảng ta và Chú tịch Hồ Chí Minh đặt ra là để thực hiên đoàn kết đân tộc. Nhờ tư tưởng nhất quần và chính sách Mặt trận đúng đắn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công khối đại đoàn kết dân tộc, đưa cách mang Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn.
HỒ Chí Minh viết: "Đoàn kết trong Mặt trận W/@ Minh, nhân dần ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đoàn kết trong Mặt tran Lién Viét, nhan dan ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc. Đoàn kết trong Mat tran 76 quốc Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dưng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc". Từ thực tiễn như vậy, Hỗ Chí Minh đã khái quát thành nhiều luận điểm có tính chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết: 1.
Hồ Chí Minh: Toàn sập, 1. 165 Đoàn kết làm ra sức mạnh. Hồ Chí Minh rất nhiều lần nhấn mạnh luận điểm này. Người viết: "Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta.
Đoàn kết chặt chẽ, thì chứng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm trọn nhiệm vụ nhân đân giao phó”; "Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”; "Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”; "Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”. “Bây giờ còn một điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là _ đoàn kết”. "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công! ".
b) Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đẳng, của dân tộc Trong tư tưởng Hỗ Chí Minh, yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết là sức mạnh, là mạch nguồn của mọi thắng lợi. Do đó, đại đoàn kết dân tộc phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, phải được quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách, tới hoạt động thực tiễn của Đảng. Trong Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, Hồ Chí Minh 1,2. Hồ Chí Minh: 7oản đáp, L7, tr.
Hồ Chí Minh: 7oän đập, t. Hồ Chí Minh: 7oản /âp, t8, tr. Hồ Chí Minh: Toàn đáp, t. 166 đã thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc: "Mục 'đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc".
Đề thực hiện mục tiêu này, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đẳng viên phải thắm nhuần quan điểm quần chúng, phải gần gũi quần chúng, lắng nghe quần chứng; vận động, tổ chức và giáo dục quần chúng, coi sức mạnh của cách mạng là ở nơi quần chúng; phải thấm nhuần lời dạy "dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, đồng thời cũng là nhiệm vụ hàng đầu của mọi giai đoạn cách mạng. Nhắn mạnh vấn đề này là nhắn mạnh tới vai trò của thực lực cách mạng. Bởi vì, cách mạng muốn thành công nếu chỉ có đường lối đúng chưa đủ mà trên cơ sở của đường lối đúng, Đảng phải cụ thể hóa thành những mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp cách mạng phù hợp với từng giai đoạn lịch sử để lôi kéo, tập hợp quần chúng, tạo thực lực cho cách mạng.
Thực lực đó chính là khối đại đoàn kết dân tộc. Năm 1963, khi nói chuyện với cán bộ tuyên truyền và huấn luyện miền núi về cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trước Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến, thì nhiệm vụ tuyên huấn là làm cho đồng bào các dân tộc hiểu duce may vite: Mét 13 doan kết. #72 là làm cách mạng hay kháng chiến đễ đòi độc lập. Chỉ đơn giản thế thôi.
Bây giờ mục đích của tuyên truyền huấn luyện là: Một /ằ đoàn kết, 1. Hồ Chí Minh: 7oản đập, t6, tr. 167 Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội. 8z 74 đấu tranh thống nhất nước nhà", Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết dân tộc không phải chỉ là mục tiêu của Đảng, mà còn là nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc.
Bi vì, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, phải do quần chúng, vì quần chúng. Từ trong phong trào đấu tranh để tự giải phóng và xây dưng xã hội mới tốt đẹp, quần chứng nảy sinh nhu cầu đoàn kết và sự hợp tác. Đảng Cộng sản phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, chuyển những như cầu, những đồi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đại đoàn kết, tạo thành sức mặnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dan tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho con người. Nội dung của đại đoàn kết dân tộc a) Dal đoàn kết dân tộc là đại đoàn kốt toàn dân Đứng trên lập trường giai cấp công nhân và quan điểm quần chúng, Hồ Chí Minh đã đề cập vấn đề DÂN và NHÂN DÂN một cách rõ ràng, toàn điện, có sức thuyết phục, thu phục lòng người.
Các khái niệm này có biên độ rất rộng lớn. Hồ Chí Minh thường dùng khái niệm nay dé chi "mos con dân nước Việt", "mỗi một người con Rẳng chấu Tiên", không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, có tín ngưỡng hay không tín ngưỡng, không phân biét "gid, rẻ, gái, trai, giàu 1. Hồ Chí Minh: Joan tip, 11, tr. 168 nghèc, quý tiên".
Như vậy, đân và nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa được hiểu với tư cách là mỗi con người Việt Nam cu thể, vừa là một tập hợp đồng đảo quần chúng nhân dân, với những mối liên hệ cả quá khứ và hiện tại, họ là chủ thể của khối đại đoàn két dan tộc và đại đoàn kết dân tộc thực chất là đại đoàn kết toàn dan. Nói đại đoàn kết dân tốc cũng có nghĩa là phải tập hợp được tất cả mọi người đân vào một khối trong cuốc đấu tranh chung. Theoý nghĩa đó, nội hàm khái niệm đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú, nó bao gồm nhiều tầng nắc, nhiều cấp đô các quan hệ liên kết qua lại giữa các thành viên, các bộ phân, các lực lượng xã hội của dân tộc từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài, từ trên xuống đưới. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói: "Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dai.
Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây đựng nước nhà. Ai Có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tế quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ", Từ "7ä ở đây là chủ thể, vừa là Đảng Công sản Việt Nam nói riêng, vừa là mọi người din Việt Nam nói chung. Người còn chỉ rõ, trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn đân phải đứng vững trên lập trường giai cắp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp - dân tóc để tập hợp lực lượng, không được phép bỏ sót một lực lượng. nào, miễn là lực lượng đó có lòng trung thành và sẵn sàng, 1.
Hồ Chí Minh: 7oàn đíp, t7, tr438. 169 phục vụ Tổ quốc, không là việt gian, không phản bội lại quyền lợi của dân chúng là được. Với tính thần đoàn kết rộng rãi như vậy, Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc xây đựng khối đại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc tới cách mạng dân chủ nhân dân và từ cách mạng dân chủ nhân dân tới cách mạng xã hội chủ nghĩa. b) Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc; đồng thời, phải có tắm lòng khoan dung, độ lượng, tin vào nhân dân, tin vào con người Để xây đựng khối đại đoàn kết toàn dân, phải kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc.
Truyền thống này được hình thành, củng cố và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của cả dân tộc, trở thành giá trị bền vững, thắm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của mỗi con người Việt Nam, được lưu truyền qua các thế hệ từ thời các Vua Hùng dựng nước, tới Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung. Truyền thống đó là cội nguồn sức mạnh vô địch để ca dan tộc chiến đầu và chiến thắng mọi thiên tai địch họa, làm cho đất nước được trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững. Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người. Hỗ Chí Minh chỉ rõ, trong mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng, đồng đều có những ưu điểm, khuyết điểm, mặt tốt, mặt xấu.