Lời mở đầu Binh chế chí viết: "Đời xưa binh lấy ở nghề nông là có ý phục việc nguy hiểm vào nơi thuận tiện. Trong thành, vua có quân Túc vệ, đội ngũ đông nghiêm. Còn quân ở ngoài thì vẫn theo ý nghĩa đời xưa, lúc vô sự thì về làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi ra hết. Cho nên binh vẫn đủ mà không phải tiêu phí nhiều, càng thêm hăng hái chống thù.
Cái chiến công dẹp quân Chiêm, phá quân Tống, cái oai hùng ba lần đánh bại quân Nguyên cũng đủ cho biết binh lực hai đời cường thịnh là thế nào". Phần Lệ nuôi binh và cấp tuất trong Binh chế chí, Ông viết: "Đời Lý. ngoại binh thì không có lương, cứ luân phiên đến canh, hết phiên canh cho về nhà cày cấy trồng trọt để tự cấp. Nhà Trần theo phép nhà Lý.
binh các đạo thì đều chia phiên về làm ruộng cho đỡ tốn lương. Phép nuôi binh đời Lê sơ đại để theo phép ngụ binh ư nông của các đời Lý, Trần, không phải cấp lương bổng. Thời Hồng Đức trở về sau, cứ theo phép ấy không đổi"11. Chính sách "ngụ binh ư nông" của tổ tiên ta trong nhiều thế kỷ thời phong kiến thịnh đạt là một cơ chế quản lý, động viên và sử dụng nhân lực trong nước kết hợp kinh tế với quốc phòng, vừa dựng nước, vừa giữ nước.
Thời bình thì quân thường trực ít, chủ yếu bảo vệ triều đình, bảo vệ kinh thành, chi phí cho quốc phòng được giảm nhẹ, dân đỡ phải đóng góp, nguồn lực dự trữ quốc phòng đầy đủ nhưng mỗi địa phương vẫn thường xuyên có quân địa phương phòng giữ và một lực lượng quân dự bị to lớn. Điều quan trọng hơn là sức lao động cho nông nghiệp và các hoạt động xã hội khác vẫn dồi dào bảo đảm ổn định đời sống nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội. Thời chiến thì nhà nước có thể nhanh chóng huy động được quân số đông đảo "tận dân vi binh", cùng các kho tàng dự trữ, đáp ứng kịp thời nhu cầu chiến tranh. Đặt ra và thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông", ông cha ta có tham chước binh chế các triều đại Trung Quốc, trong đó có chính sách "ngụ binh ư nông" thời nhà Đường, nhưng về nội dung thì "ngụ binh ư nông" của nước ta có những điểm khác căn bản với binh chế của nhà nước phong kiến Trung Quốc.
ở Trung Quốc thời ấy, "sương quân" được chia phiên, thay nhau về sản xuất, nhưng số quân này không nhiều và không phải trở về làm dân, sinh sống với gia đình, mà vẫn là quân, chủ yếu sản xuất ở các đồn điền quân đội. Chính triều Tống cũng phải khen và có những điều học theo binh chế "của An Nam". Chính sách "ngụ binh ư nông" là một sáng tạo độc đáo, phù hợp với hoàn cảnh nước ta, đáp ứng yêu cầu kết hợp chặt chẽ dựng nước với giữ nước. Chính sách này đem lại hiệu quả lớn: quốc phú, binh cường, bảo vệ chủ quyền quốc gia và đánh thắng chiến tranh xâm lược của kẻ thù.
Cùng với chính sách căn bản "ngụ binh ư nông", các nhà nước phong kiến còn có chính sách "chăm lo vùng phên giậu", ổn định dân tình, lập các cơ sở sản xuất của quân đội vùng biên giới, di dân vào định cư ở các vùng đất mới mở ở phía Nam,. để giữ vững biên cương. Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng là nguyên nhân căn bản dẫn tới thành công sự nghiệp dựng nước và giữ nước, một bài học lớn trong lãnh đạo đất nước của tổ tiên ta. Xây dựng lực lượng vũ trang phù hợp yêu cầu kết hợp dựng nước và giữ nước Xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của nước ta, từ tính chất chính nghĩa và yêu cầu của công cuộc giữ nước, trong xây dựng lực lượng vũ trang, ông cha ta luôn có quan điểm nhất quán kết hợp chặt chẽ dựng nước với giữ nước, thể hiện ở tư tưởng chỉ đạo đặc sắc: "cả nước đánh giặc, toàn dân là lính", "quân cốt tinh, không cốt nhiều".
Quy luật của tất cả các cuộc chiến tranh từ xưa đến nay là mạnh được yếu thua trong so sánh lực lượng tổng hợp của các bên tham gia chiến tranh. Ông cha ta nhận thức rất rõ điều này. Trần Quốc Tuấn cũng nhất trí với Tôn Tử rằng: "Chiến tranh thắng lợi là do lực lượng so sánh có ưu thế tuyệt đối như dật đối với thù. Chiến tranh thất bại là do lực lượng so sánh ở trong thế yếu tuyệt đối như thù đối với dật" 12.
Nguyễn Trãi cũng so sánh lực lượng thắng, thua giữa ta và địch: "Kể lấy sức nặng ngàn cân đè lên trứng chim, thì chưa hề có trứng nào không vỡ nát"13. Từ nhận thức đó, các triều đại phong kiến trước đây luôn chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, đủ sức đáp ứng yêu cầu thời bình cũng như khi chiến tranh xảy ra. Trong cách tổ chức bộ máy nhà nước thời phong kiến, lực lượng vũ trang - quân đội và dân binh - vừa làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa có nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự xã hội. Trần Quốc Tuấn nói: "Nước lấy binh làm gốc", Lê Hiển Tông nói: "Coi binh như nanh vuốt của quốc gia" là với ý nghĩa trên.
Nước ta, không kể khi có chiến tranh hay chiến tranh sắp xảy ra, mà cả thời bình thì kẻ thù cũng luôn rình rập nhòm ngó, lấn chiếm, phá hoại. Đất nước luôn phải đề phòng "việc bất ngờ" và lực lượng vũ trang phải thường xuyên cảnh giác, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của giặc ngoài, thù trong, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ triều đình, bảo vệ cuộc sống yên bình của nhân dân. Do đó, thời bình cũng không thể sao nhãng chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang. Khi có chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thì đây là những cuộc chiến tranh tự vệ hoặc giải phóng, diễn ra ngay trên đất nước ta.
Hầu như tất cả các cuộc chiến tranh đó, giặc ngoại xâm có quân số đông hơn gấp bội quân đội thường trực nước ta. Nếu chủ trương đánh địch chỉ bằng quân đội chủ lực của triều đình, thì thường xuyên phải có quân số thường trực đến mấy chục vạn. Thậm chí như thời Đinh, Đinh Bộ Lĩnh định xây dựng đội quân 100 vạn người; Hồ Quý Ly nói: "Ta làm sao có được 100 vạn quân để đối địch với giặc Bắc". Trong khi đó thời Đinh dân số nước ta chỉ khoảng ba, bốn triệu người, thời Hồ khoảng 6 triệu và thời Lê cũng chỉ đến 8 triệu, làm sao có thể xây dựng và duy trì quân số đông đến như vậy? Thông thường trước đây, thời bình, quân thường trực chỉ khoảng 1% dân số.
Trong những thế kỷ XI đến XV, quân số của các triều Lý, Trần, Lê thời bình thường chỉ bốn, năm vạn, chưa bao giờ đến 10 vạn. Như vậy, nền kinh tế có khả năng đáp ứng nuôi dưỡng, trang bị cho quân đội. Nếu quân số quá đông thì ảnh hưởng ngay đến sự phát triển sản xuất do thiếu nhân lực và nền kinh tế không thể đảm bảo chi phí quốc phòng. Như thế, kinh tế sẽ sa sút và quốc phòng cũng yếu kém.
Sau này Ngô Ngọ Phong có bàn về việc lập đội quân 100 vạn: "Số cơm áo 100 vạn người ấy tất phải phiền đến mấy ức vạn người cung cấp thì dân lực trong nước lấy gì mà cung cấp đủ cho được, dân khổ quá sẽ làm giặc, dân làm giặc thì nước tất biến"14. Năm 1733, Tham tụng Nguyễn Hiệu tâu với Lê Thuần Tông: "Việc binh cốt ở biết phép. không cốt ở số nhiều. Nếu cứ tăng số lượng mãi thì các khoản tốn phí mỗi năm nuôi binh thêm nhiều chỉ hại cho dân"15.
Ngay cả thời chiến tranh, với tinh thần toàn dân đánh giặc, nhưng không phải tất cả trai tráng đều vào quân ngũ. Tùy từng thời điểm chiến tranh, tùy từng chiến trường cụ thể mà huy động lực lượng cần thiết. Các cuộc kháng chiến của ta phổ biến là "tránh cái thế mạnh lúc ban mai" để "đánh cái thế tàn lúc buổi chiều" của kẻ thù, nên thường theo phương châm đánh lâu dài. Vừa đánh giặc, vừa phải duy trì cuộc sống của dân, phải lo cung cấp cho binh lính trong quá trình chiến đấu, dự trữ kho tàng dù nhiều vẫn bị vơi dần do chi dùng, do địch cướp phá.
Vì vậy, vẫn phải có lực lượng tiếp tục sản xuất. Chưa kể cần có lực lượng dân binh đánh địch tại chỗ giữ làng, giữ bản, bảo vệ và chăm lo cho dân, cần có lực lượng dự trữ để khi cần thì tiếp tục gọi nhập ngũ. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên, có lúc triều đình và quân chủ lực phải rút lui, địch mở rộng chiếm đóng, tình hình rất khó khăn, nhưng ta vẫn giành một lực lượng dự bị lớn chưa huy động ở vùng hậu phương. Vua Trần nói với quan tướng: "Cối Kê cựu sự quân tu ký, Hoan Diễn do tồn thập vạn binh".
(Các ngươi nên nhớ chuyện Cối Kê cũ, vùng Hoan Diễn ta vẫn còn 10 vạn quân) Dù trong chiến tranh, nhà nước có huy động nhập ngũ đông "tận dân vi binh", nhưng nhiều khi quân ta vẫn ít hơn quân địch. Quân ta không nhiều nhưng đánh thắng được quân địch vừa đông hơn, vừa là đội quân chủ lực thiện chiến. Đó là vì ông cha ta chủ trương "quân cốt tinh, không cốt nhiều" (lời Trần Quốc Tuấn), Nguyễn Trãi cũng nhận định: "Binh mạnh hay yếu không cứ nhiều hay ít", Quang Trung cũng khẳng định: "Quân lính cốt hòa thuận, không cốt đông, cốt tinh nhuệ, không cốt nhiều". Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận định: "Quan điểm chú trọng chất lượng vốn là một nội dung quan trọng trong truyền thống quân sự của dân tộc ta"16.
Tuy nhiên, tùy thời bình hay thời chiến, tùy từng cuộc chiến tranh, tùy đối tượng tác chiến cụ thể mà tổ tiên ta tổ chức một quân đội có số lượng thích hợp. Một quân đội số lượng không đông, chất lượng cao phải dựa trên cái nền là cả nước đánh giặc, toàn dân là lính, nghĩa là phải đánh giặc bằng sức mạnh tổng hợp cả nước, cả dân tộc, đánh giặc bằng lực lượng vũ trang đông đảo gồm cả quân chủ lực của triều đình, quân các địa phương và cả nhân dân vũ trang. Quân cốt tinh hay chất lượng cao là một quân đội có giác ngộ dân tộc, có ý chí quyết tâm đánh giặc, có tinh thần xả thân, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, đoàn kết, hiệp đồng với đồng đội, với nhân dân trong sinh hoạt cũng như trong tác chiến, có kỹ thuật, chiến thuật thành thục, có tính kỷ luật cao.