Chương 1 TỎNG QUAN VÈ THƯƠNG MẠI DI ĐỘNG Chương này tập trung hướng dẫn người đọc hiểu và cỏ cái nhìn tổng quan: + Lịch sử phát triển của các hệ thống truyền thông di động từ thể hệ thứ nhất đến thế hệ thứ tư được xem là thế hệ phát triển trong tương lai. + Các khái niệm theo quan điểm tiếp cận khác nhau của các tổ chức lớn trên thế giới về Thương mại di động. + Hiểu được bản chất của Thương mại di động. + Phân biệt được sự khác nhau giữa Thương mại di động và Thương mại điện tử trên cả hai khỉa cạnh: Công nghệ và phi công nghệ.
+ Nắm được các hạn chế và đặc điểm cơ bản của Thương mại di động. + Phân tích được vai trò của Internet với các hoạt động Thương mại di động. LỊCH SỬ PHÁT TRIẺN CỦA HỆ THỐNG TRUYỀN THÔNG DI ĐỘNG Những thiết bị di động như điện thoại di động (ĐTDĐ) và thiết bị số cá nhân (PDA - Personal Digital Assistant) được xem là những thành tựu nổi bật nhất về công nghệ và thương mại trong những thập niên gần đây. Kể từ khi có sự ra đời của các thiết bị di động, vị trí của nó trong thị trường đã phát triển một cách chóng mặt từ một thiết bị mang tính chuyên biệt, trở thành một vật dụng thiết yếu đối với cuộc sống và công việc kinh doanh.
Trong thực tế, để có được sự phát triển như ngày nay của các thiết bị di động, hệ thống truyền thông di động là yếu tố quyết định và là nền tảng thúc đẩy. 5 Năm 1897, Guglielmo Marconi là người đầu tiên đã chứng minh khả năng liên lạc liên tục với thuyền buồm ngoài khơi bờ biển của Vương quốc Anh thông qua đài phát thanh và sóng tín hiệu truyền thông. Kể từ đó, hệ thống truyền thông không dây đã phát triển từ tương đối đơn giàn với công nghệ thế hệ đầu tiên (1G - fĩrst generatíon) sang công nghệ thế hệ thứ ba (3G - third generation), kỹ thuật số và các công nghệ băng thông rộng. Các hệ thống sau này đòi hỏi sự kết hợp của thiết bị di động và cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cung cấp cho hệ thống thông tin cá nhân PCS (Personal Communication System).
Công nghệ thế hệ thứ ba cho phép người dùng chuyển bất kỳ hình thức dữ liệu và thông tin đa phương tiện giữa các địa điểm không dây từ xa nhằm cung cấp đày đủ, độc lập với kết nối. Công nghệ này cho phép ĐTDĐ và các thiết bị truyền thông di động được sử dụng như là cổng dữ liệu và thông tin chứ không chỉ đơn thuần là thiết bị liên lạc giọng nói. Thế hệ thứ nhất của hệ thống truyền thông di động (1G) Năm 1946, AT & T Bell giới thiệu ĐTDĐ đầu tiên tại Mỹ cho phép các cuộc gọi từ các trạm điện thoại cố định tới ĐTDĐ. Ban đầu, công nghệ này có chất lượng kém, do đó được ít người sử dụng.
Sau đó, bằng các nghiên cứu và sự phát triển của thông tin truyền thông di động (minh chứng qua các tiện ích viễn thông khác nhau trên toàn thế giới), mạng viễn thông di động phục vụ trong lĩnh vực thương mại được cải thiện nhiều. Vào thời gian này, ĐTDĐ công nghệ cao IMTS của AT & T Bell đã ưở thành sàn phẩm được ưa chuộng nhất ở Mỹ. Tuy nhiên, mãi cho đến cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 mới có nhiều bước phát triển tíong bộ vi xử lý công nghệ, và cài tiến trong hạ tâng mạng di động, dẫn đến sự ra đời của thế hệ công nghệ đầu tiên (1G). Hệ thống này dựa chủ yếu vào truyền dẫn giọng nói hơn là dữ liệu, về mặt khái quát, những hệ thống của thế hệ thứ nhất (1G) định hướng cho các thế hệ sau.
Những hệ thống này được xếp vào nhóm dựa trên nền tảng 'công, nghệ chuyển mạch analog với loại hình dịch vụ đầu tiên được cung cấp cho các thuê bao di động là chuyển tải tiếng nói. 6 Đến những năm 1980, các công ty viễn thông và ĐTDĐ không dây và nhiều công ty có ành hưởng lớn nhất trên thế giới như Nokia tại Phần Lan, Ericsson ở Thụy Điển và Motorola tại Mỹ đã ra đời kéo theo sự phát triển của các tiêu chuẩn cho mạng di động viễn thông không dây. Một số nước như Thụy Điển, Nhật Bàn, Mỹ bắt đầu phát triển các tiêu chuẩn riêng cho các mạng di động dựa trên băng thông và giao thức mạng. Điều này gây khó khăn cho việc trao đổi thông tin giữa nước này với nước khác.
Các hệ thống thông tin đầu tiên bao gồm hệ thống ĐTDĐ Bắc Âu (NMT) ở Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển; dịch vụ ĐTDĐ tiên tiến (amps) ở các khu vực khác nhau của châu Á, Mỹ và Canada; các hệ thống truyền thông mở rộng lượng truy cập (ETACS) tại Vương quốc Anh và hệ thống mạng kỹ thuật số (JDC) tại Nhật Bản. Thế hệ thứ hai của hệ thống truyền thông di động (2G) Tại châu Âu, mỗi nước phát triển một hệ thống thông tin di động trong lãnh thổ cùa riêng mình. Người đăng ký sử dụng dịch vụ ở một nước, khi đi sang các nước khác thường không thể sử dụng dịch vụ đã đăng ký ở nước mình. Ngày càng xuất hiện nhiều các hệ thống 1G và hệ thống này trở nên quá tải do nhu cầu mờ rộng mạng, thiếu tính năng bảo mật, thiếu tiêu chuẩn cho các mạng không dây.
Năm 1983, một tiêu chuẩn kỹ thuật số - gọi là hệ thống toàn cầu về truyền thông di động (GSM - Global System for Mobile Communications), hoạt động ở các giải tần tiêu chuẩn, được đưa ra và đề xuất sử dụng. Điều đó, dẫn tới sự phát triển của thế hệ công nghệ thứ hai (2G-second generation) là hệ thống không dây dựa hên công nghệ kỹ thuật số. Việc phát triển công nghệ 2G diễn ra trong những năm 1990 cùng với sự tương thích của mạng viễn thông trên toàn cầu và được gọi là hệ thống toàn cầu cho truyền thông di động (GSM). Mạng GSM chủ yếu phát triển ở trung tâm châu Âu, nhưng được mở rộng sang các khu vực khác với chi phí thấp, thực hiện hiệu quả hơn với các tiêu chuẩn được nâng cao hơn.
Mạng GSM là bước phát triển quan trọng trong sự phát triển của thương mại trên nền di động hiện đại vì nó 7 không chỉ thống nhất một loạt các tiêu chuẩn khác nhau mà còn là tiêu chuẩn đầu tiên để xác định kiến trúc mạng. Đây là thế hệ mạng ĐTDĐ thứ hai sử dụng công nghệ mã hóa kỹ thuật sổ mà ở đó giữa điện thoại và các trạm cơ sở có cùng dạng mã hóa dòng dữ liệu. Sự can thiệp từ bên ngoài gặp nhiều khó khăn hơn công nghệ 1G. ĐTDĐ 2G có thể gửi và nhận dữ liệu (giới hạn dung lượng) như nhắn tin văn bản, nhắn tin ngắn (SMS - Short Message Services) hay lướt web trên di động thông qua các giao thức ứng dụng không dây (WAP - Wữeless Application Protocol), iMode.
Tuy nhiên, một trong những hạn chế của hệ thống mạng GSM 2G là chủ yếu giao tiếp bằng giọng nói, giới hạn khả năng truyền dữ liệu. Do đó, một loạt các ĐTDĐ 2G đã được cải tiến vào cuối thập niên 90 và đầu những năm 2000 nhằm cung cấp khả năng truyền dữ liệu tốc độ cao hơn và luôn luôn kết nối qua GPRS (General Packet Radio Service). Những cải tiến của dịch vụ 2G là công nghệ 2,5G (tức là nâng cao công nghệ chuyển tiếp giữa thế hệ thứ hai và thứ ba trong quá trình phát triển). Ví dụ, GPRS cho phép các giao thức WAP và các ứng dụng khác truy cập dễ dàng và nhanh hơn thông qua GSM.
Cũng như thế, ĐTDĐ hỗ trợ GPRS cho phép kết nối vào mạng để lấy thông tin từ ĐTDĐ, máy tính xách tay hoặc PDA. Vì vậy, có thể nhận e-mail từ một ĐTDĐ mà không cần phải qua thiết bị kết nối và WẠP giúp truy cập. Thế hệ thứ ba của hệ thống truyền thông di động (3G) Tại khu vực Bắc Mỹ, các nhà khai thác mạng sử dụng một kỹ thuật tương tự analog gọi là AMPS - Dịch vụ ĐTDĐ tiên tiến. Các nhà khai thác nhanh chóng đạt đến số lượng thuê bao tối đa, dẫn tới việc rớt cuộc gọi hoặc không thể kết nối do tín hiệu bận.
Khi tiến hành nâng cấp lên kỹ thuật số, các nhà khai thác mạng có 3 lựa chọn: Sử dụng công nghệ TDMA (Time Division Multiple Access), CDMA (Code Division Multiple Access) hoặc GSM (cũng là một dạng của TDMA). Mỗi tiêu chuẩn đều được những người đề xuất hỗ trợ mạnh mẽ dẫn tới việc cả 3 công nghệ đều được sử dụng cho các nhà khai thác. Kết quà là tạo ra các 8 hệ thống mạng thông tin di động riêng biệt và không tương thích trên toàn khu vực. Tóm lược sự phát triển của mạng truyền thông di động Trong một nỗ lực nhằm tiêu chuẩn hoá các hệ thống thông tin di động kỹ thuật số trong tương lai và tạo ra khả năng kết nối toàn cầu với chỉ một thiết bị, năm 1999, liên minh viễn thông quốc tế ITU đã đưa ra một tiêu chuẩn duy nhất cho các mạng di động tương lai gọi là IMT2ỌỌ0.
Tiêu chuẩn Thông tin di động quốc tế - IMT2000 sau này được gọi là 30, đưa ra các yêu cậụ cho các mạng di động thế hệ kế tiếp bao gồm: - Tăng dung lượng hệ thống - Tương thích ngược với các hệ thống thông tin di động trước đây (2G) - Hỗ trợ đa phương tiện - Dịch vụ dữ liệu gói tốc độ cao, với các tiêu chuẩn về tốc độ truyền dữ liệu được xác định >2Mbps khi đứng yên hay ở trong khu vực nội thị và >384Kbps ở khu vực ngoại vi, >144Kbps ở khu vực nông thôn, sử dụng thông tin vệ tinh, khả năng phủ sổng rộng, tốc độ truyền dữ liệu có khả năng thay đổi. 9 ITU mong muốn các nhà khai thác mạng sẽ tạo một hệ thống cơ sở hạ tầng mạng và vô tuyến thống nhất, có khả năng cung cấp dịch vụ đa dạng và rộng khắp trên toàn cầu. Những ưu điểm của 3G là cung cấp một cổng công nghệ PCS cải tiến, khả thi và tiết kiệm cho phép chuyển giao các mô hình từ thương mại điện tử (TMĐT) sang TMDĐ. 3G là công nghệ đầu tiên được giới thiệu tại Nhật Bản vào năm 2001 và phát triển sang châu Âu và Hoa Kỳ vào năm 2002.
Điều thú vị là ĐTDĐ và mạng lưới 3G đã được kiểm nghiệm trước năm 2002. Ví dụ, tại châu Âu, công nghệ 3G được thử nghiệm vào năm 2001 trên Đảo Man, một bán đảo nhỏ, độc lập với bờ biển của Vương quốc Anh. Công nghệ 3G nhằm tích hợp mọi lĩnh vực của cuộc sống.