Giáo trình Thuế I sate “. LN Ồ CHUONG 6 THUE THU NHAP CA NHAN MỤC TIÊU HỌC TẬP Sau khi học xong chương này, sinh viên sẽ có thể: - Hiểu rõ khái niệm và những đặc điểm cơ bẩn của thuế Thu nhập cá nhân. - Tổng hợp và phân tích các vai trò của thuế Thu nhập cá nhân. - Xác định được các khoản thu nhập chịu thuế Thu nhập cá nhân hiện hành của Việt Nam.
- Nhận biết về người nộp thuế Thu nhập cá nhân hiện hành của Việt Nam. - Xác định được phương pháp tính thuế đối với cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú theo thuế Thu nhập cá nhân hiện hành của Việt Nam. - Phân biệt giữa biểu thuế lãy tiến từng phân và biểu thuế toàn phân của thuế Thu nhập cá nhân hiện hành của Việt Nam. - Khái quát các trường hợp miễn thuế Thu nhập cá nhân hiện hành của Việt Nam.
Trang 204 Giáo trình Thuế I I. TONG QUAN VE THUE THU NHAP CA NHAN 1. Khái niệm Thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, thu vào thu nhập của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định. Thuế Thu nhập cá nhân được áp dụng lần đầu tiên tại nước Hà Lan vào năm 1797, nước Anh áp dụng thuế Thu nhập cá nhân vào năm 1799, nước Phố áp dụng vào năm 1808.
nước Mỹ bắt đầu áp dụng thuế Thu nhập cá nhân từ năm 1864. Tại các nước Châu Á: Nhật bản áp dụng vào cuối thế kỷ 19; Thái Lan bắt đầu áp dụng năm 1939, Phi-líp-pin áp dụng vào năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, In-đô-nê-si-a năm 1949, Trung Quốc năm 1984. Các nước Đông Âu mới áp dụng như: Ru-ma-ni vào năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992. Thuế Thu nhập cá nhân đã trở thành loại thuế phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Tại các quốc gia phát triển, thuế Thu nhập cá nhân đóng góp nguồn thu khổng lồ cho tổng thu nhân sách Nhà nước. Ngoài ra, thuế Thu nhập cá nhân còn nhằm mục tiêu thực hiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trên cơ sở xem xét đến hoàn cảnh cụ thể của người nộp thuế. Đặc điểm - Thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu nên luôn tạo cảm giác gánh nặng thuế cho người chịu thuế. Thuế Thu nhập cá nhân tính trực tiếp trên phần thu nhập phát sinh của người nộp thuế.
Người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế, họ khó có thể chuyển gánh nặng về thuế cho người khác tại thời điểm đánh thuế. Đây là loại thuế liên quan trực tiếp đến lợi ích của người chịu thuế, do đó rất nhạy cảm và dễ bị phản ứng. - Thuế Thu nhập cá nhân có phạm vi đánh thuế rất rộng từ đối tượng chịu thuế đến người nộp thuế. Một là đối tượng chịu thuế là toàn bộ các khoản thu - nhập của cá nhân không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài.
Hai là đối tượng nộp thuế bao gồm tất cả các công dân - của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hoặc không thường xuyên tại nước sở tại. Trang 205 Giáo trình Thuế Ï “` `. IEE RENESAS OBA an MO - Thuế Thu nhập cá nhân thực hiện vai trò điều tiết công bằng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Thuế Thu nhập cá nhân thực hiện điều tiết thu nhập theo nguyên tắc phù hợp với khả năng chỉ trả thuế.
Do đó, thuế suất thường được thiết kế theo biểu thuế lũy tiến. Ý kiến về một loại thuế lũy tiến đã được đóng góp từ các nhà kinh tế học vĩ mô và các nhà khoa học chính trị với nhiều tư tưởng khác nhau từ Adam Smith cho đến Karl Marx. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về mức độ tối ưu của tính lũy tiến. Một số nhà kinh tế học đi theo nguyên bản của thuế lũy tiến hiện đại theo Adam Smith, ông đã viết tác phẩm Sự giàu có của các quốc gia.
Giải thích theo nghĩa “người nghèo chỉ phí rất lớn cho các nhu câu thiết yếu của cuộc sống. Người nghèo gặp khó khăn khi mua thực phẩm nhiều hơn so với thu nhập eo hẹp của “ họ. Các nhu cầu xa xỉ và cao cấp được đài thọ từ khoản chỉ phí cơ bản của người giàu. Nó thật sự bất hợp lý khi mà người giàu sẽ đóng góp cho chi tiêu công không tý lệ với thu nhập của họ, ngoại trừ một số thứ họ đóng góp nhiều hơn so với tỷ lệ đó”.
Tại các quốc gia, thuế suất thuế Thu nhập cá nhân được soạn thảo theo chiều hướng thuế thu nhiều phan trăm hơn trên thu nhập của người có thu nhập cao và thu ít phần trăm hơn trên thu nhập của người có thu nhập thấp. Điều này khiến cho người thu nhập cao có nhiều kha năng chỉ trả tiền thuế hơn là những người có thu nhập thấp. Thực tiễn này xuất phát từ cơ sở lý thuyết “thu nhập khả dụng biên tế giảm dẫn”. Tuy nhiên, thuế lũy tiến phải đảm bảo nguyên tắc là ông A có thu nhập cao hơn ông B, sau khi nộp thuế thì thu nhập còn lại của ông A vẫn cao hơn so với ông B.
Do đó, thuế Thu nhập cá nhân có biểu thuế thuế lũy tiến được xây dựng hết sức công phu và phức tạp nhưng lại phải thường xuyên phải thay đổi qua mỗi năm. Từ ngưỡng thu nhập chịu thuế đến khoảng cách giữa các mức thu nhập và lựa chọn mức thuế suất thích hợp cho từng khoảng cách thu nhập chịu thuế là sự kết hợp hài hòa giữa tính khoa học, tính nghệ thuật và tính chính trị của mỗi quốc gia. Trang 206 - Giáo trình Thuế I - Khác hẳn với các loại thuế gián thu và thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế Thu nhập cá nhân có tính tất yếu gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia cho dù quốc gia đó có mục tiêu xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế theo mục tiêu trung lập không nhằm vào quá nhiều các mục tiêu khác nhau. Điều này được thể hiện cụ thể thông qua việc có chú trọng đến gia cảnh của người chịu thuế, các khoản chi trả bảo hiểm, các khoản đóng góp nhân đạo, mức lạm phát.
Thông qua các quy định giảm trừ gia cảnh cho cá nhân người chịu thuế và những người phụ thuộc, giảm trừ các khoản phí bảo hiểm đã đóng góp cho các quỹ bảo hiểm bắt buộc và các quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện có đủ điều kiện, giảm trừ các khoản đóng góp nhân đạo. Các quy định giảm trừ thể hiện nguyên tắc công bằng theo chiều dọc trong điều tiết thu nhập của người dân. Mặt khác còn tạo nên sự đồng thuận của xã hội nói chung khi áp dụng luật thuế. Tuy nhiên, chính vì việc tập trung soạn thảo luật thuế Thu nhập cá nhân nhằm quan tâm đến hoàn cảnh của từng cá nhân nộp thuế đã khiến cho luật Thuế Thu nhập cá nhân nhất là luật thuế tại các nước phát triển trở thành luật thuế phức tạp nhất trong các luật thuế, Các khoản giảm trừ, các ngoại lệ và các sự lựa chọn giảm trừ của người nộp thuế xuất hiện dây đặc trong luật thuế, Điều này khiến cho ngay cả những nhà làm luật (đại biểu Quốc hội) cũng không có thể tự mình kê khai thuế Thu nhập cá nhân cho chính họ mà phải nhờ đến sự hỗ trợ của các chuyên gia tư vấn thuế.
Một khoản chi phi tư vấn thuế là gần như không thể tránh khỏi đối với các cá nhân nộp thuế Thu nhập cá nhân tại các quốc gia phát triển. Vai trò - Điều tiết thu nhập góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Sự tăng trưởng của nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế dẫn đến sự phân hóa giàu — nghèo giữa các tầng lớp dân cư. Một bộ phận dân cư sẽ có thu nhập cao Trang 207 Giáo trình Thuế I hơn số người nghèo khó (có thu nhập thấp hơn) và đối tượng này lại không được hưởng một cách trực tiếp những lợi ích do nền kinh tế thị trường mang lại.
Để đạt đến mục tiêu công bằng xã hội, Nhà nước phải can thiệp bằng việc thu thuế vào thu nhập cá nhân nhằm điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao, qua đó điều chỉnh tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội. Thuế Thu nhập cá nhân là công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội theo chiều đọc (các bậc thu nhập khác nhau thì chịu mức thuế suất khác nhau) và theo chiểu ngang (thu nhập như nhau thì chịu cùng một mức thuế suất). Tuy nhiên, cần lưu ý đến chỉ tiêu của ngân sách Nhà nước, đặc biệt là các khoản chỉ tiêu mang ý nghĩa phúc lợi xã hội, nhằm góp phần nâng cao đời sống vat chat va tinh than cho các đối tượng có thu nhập thấp. Bên cạnh việc tăng chỉ phúc lợi từ ngân sách Nhà nước cho cộng đồng.
Cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế mang tính chất bắt buộc và mạng lưới các quỹ bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm tư nhân trong xã hội để phục vụ tối ưu cho phúc lợi của cộng đồng dân cư. Quỹ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế mang tính bắt buộc và hoạt động dựa trên nguyên tắc số đông. Hai quỹ này sẽ gặp khó khăn khi dân số bị già đi, kinh tế khủng khoảng, thất nghiệp gia tăng. Khi đó, hai quỹ bắt buộc này sẽ gặp khó khăn, thậm chí có thể đi đến phá sản khi phải đơn độc chu cấp cho các nhu cầu phúc lợi của cộng đồng mà không có sự hỗ trợ đắc lực của các quỹ tự nguyện tư nhân khác.
Mạng lưới bảo hiểm tư nhân tự nguyện này có thể được tạo điều kiện để phát triển thông qua việc soạn thảo các khoản giảm trừ thuế cho các khoản phí bảo hiểm tự nguyện mà người nộp thuế đã đóp góp cho các quỹ tự nguyện này. Người nộp thuế sẽ đứng trước hai sự lựa chọn hoặc nộp thuế lũy tiến trên thu nhập giữ lại hoặc giảm trừ thuế tương ứng với phí bảo hiểm tự nguyện đã nộp vào các quỹ bảo hiểm tự nguyện để nhận các lợi ích trong tương lai. Hay nói cách khác qua đó luật thuế Thu nhập cá nhân sẽ góp phần khuyến khích và tạo Trang 208 Giáo trình Thuế I điều kiện phát triển mạng lưới bảo hiểm tư nhân và các quỹ hưu trí tư nhân tự nguyện trong xã hội.