ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT NAM - HÀN QUỐC THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÊ TRỌNG HƯNG (Chủ biên) NGUYỄN THANH HÀ - NGUYỄN TUẤN HẢI GIÁO TRÌNH SỬA CHỮA BỘ NGUỒN Nghề: Kỹ thuật sửa chữa, lắp ráp máy tính Trình độ: Cao đẳng (Lưu hành nội bộ) Hà Nội - Năm 2021 LỜI GIỚI THIỆU Hiện nay, các trang thiết bị điện tử, tin học đang trở thành một thành phần quan trọng trong cuộc sống hiện đại. Nhắc tới điện tử, tin học người ta có thể hình dung tới những trang thiết bị thiết yếu của cuộc sống hàng ngày như Máy vi tính, ti vi…cho đến các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao trong đó như các hệ thống máy vi tính, các hệ thống vệ tinh, các thiết bị điều khiển từ xa qua mạng máy tính ,… Có thể nói, điện tử, tin học đã dần chiếm lĩnh gần như toàn bộ các lĩnh vực của cuộc sống. Tuy nhiên có một điều cơ bản mà tất cả các trang thiết bị điện tử đều dựa trên sự phát triển từ những linh kiện nhất như điện trở, tụ điện, cuộn cảm, điốt, transitor, và các dạng mạch điện tử cơ bản… Đó chính là nền tảng phát triển của lĩnh vực điện tử, tin học hiện nay cũng như các trang thiết bị hiện đại. Chính vì vậy trong giáo trình này, sẽ đề cập tới các kiến thức cơ bản nhất về sửa chữa bộ nguồn máy tính.
bao gồm các phương pháp phân tích nguyên lý hoạt động của từng khối trong bộ nguồn, kiểm tra sửa chữa bộ nguồn khi bị các hiện tượng hư hỏng và cách khắc phục các hư hỏng đó. Mặc dù đã có cố gắng trong quá trình biên soạn nhưng chắc chắn cuốn giáo trình này không thể không có thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, quý đồng nghiệp gần xa để cuốn giáo trình thực sự trở thành một công cụ hữu ích cho học sinh ngành công nghệ thông tin nói riêng và độc giả nói chung. Xin chân thành cảm ơn ! Hà Nội, ngày.năm 2021 Chủ biên: Lê Trọng Hưng 1 MỤC LỤC LỜI GIỚI THIỆU.
2 Bài 1 Sửa chữa nguồn AC .1 Quá trình phát triển. Công tắc POWER. Mạch khử từ và chống nhiễu cho bộ nguồn. Hệ thống cầu chì bảo vệ.
16 Bài 2 Sửa chữa nguồn DC .2 Các mạch lọc nguồn. 30 Bài 3 Sửa chữa mạch tạo xung- ổn áp. Mạch dao động. Nguồn cung cấp cho mạch dao động.
49 Bài 4 Sửa chữa Biến thế. Thiết kế bộ biến thế. Kỹ thuật quấn dây .3 Kỹ thuật lắp mạch từ. Sửa chữa biến thế.
66 Bài 5 Sửa chữa mạch điều khiển. Các mạch điều khiển. Nguồn cung cấp cho mạch điều khiển. 69 Bài 6 Sửa chữa mạch công suất.
Các mạch công suất đẩy kéo (Push-Pull). Các phương pháp phân cực và ổn định nhiệt. 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 90 2 CHƯƠNG TRÌNH MÔ ĐUN Tên mô đun: Sửa chữa bộ nguồn Mã số mô đun: MĐ 18 Thời gian mô đun: 60 giờ (Lý thuyết: 16 giờ; Thực hành, thí nghiệm, thảo luận, bài tập: 42 giờ; Kiểm tra: 2 giờ) I.
VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA MÔ ĐUN: - Vị trí: + Mô đun được bố trí sau các môn học cơ sở ngành; + Học song song các môn học/ mô đun đào tạo chuyên ngành. - Tính chất: + Là mô đun chuyên ngành; + Là mô đun bắt buộc. MỤC TIÊU MÔ ĐUN: - Về kiến thức: + Nắm được nguyên tắc hoạt động của bộ nguồn. - Về kỹ năng: + Sử dụng các công cụ chuẩn đoán khắc phục bộ nguồn; + Sửa chữa các hư hỏng thường gặp của bộ nguồn.
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: + Cẩn thận, thực hiện đúng thao tác khi tiếp xúc với điện thế cao. Nội dung mô đun: Thời gian TT Tên các bài trong mô đun Tổng Lý Thực hành, Kiểm số thuyết bài tập tra 1 Sửa chữa nguồn AC 8 2 6 2 Sửa chữa nguồn DC 12 3 8 1 3 Sửa chữa Mạch Tạo Xung - ổn áp 8 2 6 4 Sửa chữa Biến thế 12 1 10 1 5 Sửa chữa Mạch điều khiển 8 4 4 6 Sửa chữa mạch công suất 12 4 8 Cộng 60 16 42 2 *Ghi chú: Thời gian kiểm tra được tích hợp giữa lý thuyết với thực hành được tính bằng giờ thực hành 3 Bài 1 Sửa chữa nguồn AC Mục tiêu Phân tích được sơ đồ mạch phần nguồn AC; Khắc phục các sự cố hư hỏng phần nguồn AC; Tính cẩn thận, đảm bảo an toàn tuyệt đối trong công việc.1 Quá trình phát triển Thành lập Công ty Điện lực miền Trung Ngày 7/10/1975, Công ty Điện lực miền Trung (nay là Công ty Điện lực 3) được thành lập. Sau khi được giải phóng, các cơ sở điện lực khu vực miền Trung hầu hết đều nhỏ bé, manh mún, không có lưới truyền tải cao thế, toàn miền chỉ có 150 máy phát diezel phân tán ở các đô thị, tổng công suất đặt là 74 MW. Công ty Điện lực miền Trung ra đời là điều kiện đảm bảo cho sự thống nhất trong công tác quản lý điều hành; đồng thời củng cố, phát triển sản xuất kinh doanh điện trong toàn khu vực miền Trung: Công ty Điện lực miền Trung sau đó đổi tên thành Công ty Điện lực 3.
Hiện Công ty Điện lực 3 (PC3) là doanh nghiệp thành viên thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), hoạt động đa ngành nghề trong đó ngành nghề chính là sản xuất, kinh doanh điện năng với địa bàn hoạt động tại 13 tỉnh, thành phố miền Trung, Tây Nguyên. Thành lập Công ty Điện lực miền Nam Ngày 7/8/1976, Bộ trưởng Bộ Điện và Than ra Quyết định số 1592/QĐ- TCCB.3 về việc đổi tên Tổng cục Điện lực (thành lập ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng) thành Công ty Điện lực miền Nam. Ngày 9/5/1981, Công ty Điện lực miền Nam đổi tên thành Công ty Điện lực 2 theo Quyết định số 15/TTCBB.3 của Bộ trưởng Bộ Điện lực. Ngày 7/4/1993, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 147-TTg chuyển Công ty Điện lực 2 trực thuộc Bộ Năng lượng.
Từ ngày 1/4/1995, Công ty Điện lực 2 được thành lập lại, trực thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam (nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam). Tuyến đường dây 220 kV đầu tiên được xây dựng Tháng 3/1979, tuyến đường dây 220 kV Hà Đông – Hòa Bình được khởi công xây dựng và đến tháng 5/1981 đưa vào vận hành. Đây là đường dây truyền tải 220 kV đầu tiên ở miền Bắc, nâng cao năng lực truyền tải, cung cấp điện và tạo cơ sở kỹ thuật cho việc xây dựng đường dây siêu cao áp 500 kV Bắc-Nam sau này. Xây dựng công trình Thuỷ điện Hòa Bình lớn nhất đầu tiên ở Việt Nam 4 Xây dựng thuỷ điện Hoà Bình Ngày 6/11/1979, hàng vạn CBCNV Việt Nam và 186 chuyên gia Liên Xô đã cùng tham gia Lễ khởi công công trình Thủy điện Hòa Bình.
Thời điểm đó, đây là công trình thủy điện lớn nhất Việt Nam do Liên Xô giúp xây dựng với 8 tổ máy có tổng công suất 1. Sau hơn 3 năm, đúng 9h00 ngày 12/1/1983, Lễ ngăn sông đợt 1 được tổ chức trọng thể với sự có mặt của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Ngày 9/1/1986, ngăn sông Đà đợt 2. Ngày 30/12/1988, tổ máy 1 (240 MW) đã phát điện, hòa lưới điện quốc gia.
Sau đó, mỗi năm hoàn thành và đưa từ 1-2 tổ máy vào vận hành. Ngày 20/12/1994, công trình Thủy điện Hòa Bình đã được khánh thành. Việc hoàn thành Thủy điện Hòa Bình đánh dấu một bước phát triển mới của ngành năng lượng và sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. Thực hiện Tổng sơ đồ phát triển điện năng giai đoạn 1 (1981-1985) Lần đầu tiên, Việt Nam xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển điện lực.
Trong giai đoạn này, ngành Điện đã khẩn trương xây dựng, hoàn thành những công trình lớn có tầm cỡ chiến lược quốc gia như: Nhiệt điện Phả Lại, Thủy điện Hòa Bình, củng cố các nhà máy Nhiệt điện Ninh Bình, Thái Nguyên, khai thác hết công suất Thủy điện Thác Bà… Về lưới điện, đã đưa các đường dây 220 kV Thanh Hóa –Vinh, Phả Lại - Hà Đông, trạm 110 kV, 220 kV Hà Đông mang tải sớm trước thời hạn, thi công xây dựng trạm 110 kV Yên Phụ. Nhiều trạm trung gian và đường dây phân phối được lắp đặt, vận hành. Nhìn chung, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế song về tổng thể, Tổng sơ đồ 1 đã đạt được kết quả nổi bật là: Đưa được công trình nhiệt điện Phả Lại và các công trình lưới điện vào đúng tiến độ, đáp ứng được nhu cầu về điện giai đoạn 1981-1985. Lần lượt các giai đoạn sau đó, ngành Điện liên tục thực hiện các Tổng sơ đồ (Quy hoạch) điện II, III, IV, V.
Hiện, Quy hoạch điện VI (giai đoạn 2006-2015, định hướng tới 2025) đang được triển khai thực hiện. Trong đó, 5 EVN đầu tư góp vốn 42 dự án nguồn với tổng công suất 22. Thực hiện đầu tư lưới 500 kV gồm 13.200 MVA trạm biến áp và 3.178 km đường dây; lưới 220 kV gồm 39.063 MVA trạm biến áp và 9.592 km đường dây; lưới 110 kV gồm 41.315 MVA trạm biến áp và 12.659 km đường dây. Hiện nay, EVN và các bộ ngành liên quan đang chuẩn bị tiếp tục xây dựng Quy hoạch điện VII.
Xây dựng đường dây siêu cao áp 500 kV Xây dựng đường dây siêu cao áp 500 kV Ngày 5/4/1992, đường dây siêu cao áp 500 kV Bắc - Nam (mạch 1) dài 1.487 km được khởi công xây dựng và ngày 27/5/1994 đã khánh thành, đóng điện vận hành. Sự kiện này đánh dấu bước trưởng thành mang tính đột phá của Điện lực Việt Nam. Hệ thống điện quốc gia Việt Nam từ đây được hình thành trên cơ sở liên kết lưới điện các khu vực Bắc – Trung – Nam thông qua trục “xương sống” là đường dây 500 kV. Ngày 23/10/2005, đường dây 500 kV Bắc – Nam mạch 2 tiếp tục được hoàn thành và đưa vào vận hành, đảm bảo hệ thống truyền tải siêu cao áp 500 kV hai mạch song song truyền tải điện 2 chiều Nam – Bắc, liên kết vững chắc, vận hành an toàn, tin cậy.
Nếu đường dây 500 kV mạch 1 thể hiện sự quyết tâm, nỗ lực và trình độ trí tuệ của những người làm điện thì thành công của công trình ĐZ 500 kV mạch 2 tiếp tục khẳng định “thương hiệu Việt” trong chế tạo thiết bị, thiết kế và thi công đường dây siêu cao áp.