đặt vấn đề: Dịch vị tiết do nguyên nhân gì và cơ chế nào? rồi ông đưa giả thiết: "Thức ăn chạm vào lưỡi, thần kinh ở lưỡi hưng phấn phát sinh xung động truyền lên não - tiếp đó não phát xung động đáp ứng theo dây thần kinh mê tẩu (dây X) đi tới tuyến dạ dày, dẫn tới kết quả là dạ dày tiết dịch vị. Để kiểm tra giả thiết đó, Pavlov thực nghiệm "Bữa ăn giả" như sau: - Cắt ngang thực quản chó, khâu 2 đầu cắt ra ngoài da cổ để khi chó ăn, thức ăn sau khi chạm lưỡi thì rơi ra ngoài chứ không vào dạ dày. Kết quả: chó vẫn tiết dịch vị. - Cắt hai dây thần kinh mê tẩu, cho chó ăn, dạ dày ngừng tiết dịch vị.
- Dùng điện kích thích phần dây mê tẩu đi vào dạ dày, kết quả là: dạ dày lại tiết dịch vị. cứu trên 1 sá hi n ương sống có i rò uẩn tọng, nó quy đ nít sự úng đắn của giả thuyết đặt ra. Các phương pháp mổ để nghiên cứu sinh lý học 6 - Mổ cấp diễn: Từ thế kỷ II, nhà y học La mã Galien đã mổ lợn và khỉ có sống để nghiên cứu chức năng của dây thần kinh và mạch máu. Đối tượng chỉ sống một thời gian ngắn trong trạng thái sinh lý không bình thường nên gọi là phương pháp mổ cấp diễn.
- Mổ trường diễn: Bernard (Pháp), Pavlov (Nga) đề xuất phương án mổ trường diễn bổ sung cho phương pháp mổ cấp diễn trong nghiên cứu sinh lý học. Đối tượng mổ sau khi phục hồi vẫn sống trong thời gian dài ở trạng thái gần như bình thường. Thí dụ: Mổ chó đặt ống thoát nước bọt, dịch vị, dịch tụy, dịch ruột, dịch mật. Sau đó chờ cho chó bình phục và tìm hiểu quy luật tiết của từng tuyến tiêu hóa.
Phương pháp học tập sinh lý học Cấu trúc và chức năng của cơ thể sinh vật có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó có chức năng quyết định cấu trúc, vì vật muốn học tập tốt môn sinh lý học trước hết phải có các kiến thức về giải phẫu và mô học. Đồng thời phải có các kiến thức cơ bản về sinh học, hóa học, vật lý học đặc biệt là hóa sinh học và lý sinh học vì nhờ nó mà ta có thể hiểu biết cặn kẽ và giải thích được bản chất các hoạt động chức năng và điều hòa chức năng của cơ thể. Để học tốt môn sinh lý học cần phải có sự so sánh, liên hệ vê chức năng giữa các cơ quan và hệ thống các cơ quan, phải đặt chúng trong mối liên quan với nhau và mối liên quan giữa cơ thể với môi trường, đồng thời phải biết tận dụng các kiến thức sinh lý hóa học để giải thích các hiện tượng, các triệu chứng trong trường hợp bệnh lý. ĐẠI CƯƠNG VỀ CƠ THỀ SỐNG VÀ HẰNG ĐỊNH NỘI MÔI 2.
Đặc trưng sinh lý cơ bản của cơ thể sống Đơn vị sống cơ bản của cơ thể là tế bào. Mỗi cơ quan là tập hợp vô số tế bào, các tế bào liên kết lại với nhau bằng cẩu trúc liên tế bào. Cơ thể có nhiều loại tế bào, mỗi loại tế bào đều có những đặc trưng riêng, nhưng chúng cũng có những đặc điểm chung. Trong quá trình tiến hóa lâu dài, các hoạt động sinh lý của gia súc tuy đã đạt tới mức độ vô cùng phức tạp, nhưng vẫn có đặc trưng sinh lý chung như các động vật khác.
Các đặc trưng đó là: 2. Thay cũ đổi mới Các tế bào trong cơ thể tồn tại và phát triển được nhờ quá trình thay cũ đổi mới không ngừng diễn ra. Thực chất của quá trình nó là quá trình chuyể hoá, trao đổi chất bao gồm 2 mặt: - Đồng hoá: Là quá trình thu nhận vật chất, chuyển vật chất thành chất dinh dưỡng, thành vật chất cấu tạo tế bào để cho sinh vật tồn tại, phát triển. - Dị hoá: Là quá trình phân giải vật chất, giải phóng năng lượng cho cơ thể.hoạt động và đào thải các sản phẩm chuyển hóa ra khỏi cơ thể.
Hai mặt biểu hiện trên của quá trình chuyển hóa có sự thống nhất với nhau và cân bằng một cách tương đối với nhau, thúc đẩy lẫn nhau và là điều kiện của nhau. Chuyển 7 hóa ngừng là ngừng sự sống, rối loạn chuyển hóa là rối loạn hoạt động chức năng của cơ thể 2. Tính hưng phấn Là khả năng đáp ứng của tổ chức sống khi chịu tác động kích thích của tác nhân: vật lý hóa học, sinh vật, tâm lý. Khả năng hưng phấn thể hiện ở mức tế bào, cơ quan hoặc toàn bộ cơ thể.
Cơ sở của tính hưng phấn là sự chuyển hóa trong cơ thể, bản chất của hoạt động hưng phấn là sự hoạt động của dòng điện sinh vật. Cường độ kích thích tối thiểu gây ra sự hưng phấn của tổ chức sống gọi là ngưỡng kích thích. Ngưỡng kích thích thay đổi phụ thuộc đặc tính từng loại tế bào, từng loại cơ quan từng cơ thể và tuỳ thuộc từng loại tác nhân kích thích. Tính hưng phấn vừa là biểu hiện của sự sống, vừa là điều kiện tồn tại của sự sống.
Tính thích ứng Cơ thể sống có khả năng thích ứng với hoàn cảnh, nghĩa là, có khả năng thay đổi chức năng một cách tương ứng với sự thay đổi ngoại cảnh, do đó duy trì được trạng thái cân bằng động giữa cơ thể với môi trường. Khả năng này gọi là tính thích ứng. Tính thích ứng dựa trên cơ sở sinh lý là tính hưng phấn. Ở gia súc có hệ thần kinh trung ương phát triển cao độ nên tính thích ứng của cơ thể đạt tới trình độ cao, cho nên trong diều kiện ngoại cảnh phức tạp gia súc có thể duy trì cân bằng động giữa hoạt động sinh lý của bản thân với ngoại cảnh, điều đó giải thích vấn đề nuôi thích nghi các giống gia súc, gia cầm nhập nội.
Khả năng sinh sản giống mình Cơ thể sống có khả năng truyền đạt lại cho đời sau các đặc điểm cấu tạo.giống mình thông qua hoạt động sinh sản. Đây là một hoạt động tổng hợp gồm nhiều chức năng, được thực hiện nhờ có mã di truyền nằm trong phân tử ADN ở nhân tế bào. Nhờ có hoạt động này mà sự sống được duy trì qua các thế hệ. Nội môi, hằng định nội môi 2.
Nội môi Là một quan niệm do Claude Bemard (1813 - 1878) đưa ra lần đầu tiên trong khi nghiên cứu các thực nghiệm sinh lý học. Để có khái niệm đầy đủ về nội môi, chúng la cần thấy rằng: khoảng 55-60% khối lượng cơ thể động vật là dịch thể. Hầu hết dịch c thể nằm ở trong tế bào và được gọi là dịch nội bào, số còn lại chiếm 1/3 nằm ngoài tế bào gọi là dịch ngoại bào. Dịch ngoại bào luôn luôn được vận chuyển khắp cơ thề nhờ hệ thống tuần hoàn máu và bạch huyết.
Dịch ngoại bào và dịch nội bào luôn có sự thay đổi vật chất lẫn nhau nhờ có sự vận chuyển các chất qua thành mao mạch. Dịch ngoại bào cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của tế bào. Như vậy về cơ bản các tế bào cơ thể được sống trong cùng một môi trường thích hợp và ổn định về nồng độ các chất như: oxygen, glucose, các con, các amino acid, các acid béo 8 và các thành phần khác. Khái niệm về sự ổn định nồng độ các chất trong dịch ngoại bào được Canon (1871 - 1945) gọi là hằng định nội môi (homeostasis).
Sự khác nhau cơ bản giữa dịch ngoại bào và dịch nội bào là ở thành phần và nồng độ các chất. Cơ chế vận chuyển các chất qua màng tế bào để duy trì sự khác biệt này được đề cập tới ở các phần sau. Hằng định nội môi Là điều kiện để các tế bào, các cơ quan và hệ thống cơ quan trong cơ thể ổn định hoạt động chức năng của chúng. Hằng định nội môi được thực hiện nhờ hoạt động của 3 hệ thống: Hệ thống tiếp nhận và chuyển hóa các vật chất dinh dưỡng thu được từ ngoài môi trường gồm: hệ liêu hóa, hệ hô hấp.
Hệ thống này đảm bảo tiếp nhận, chế biến các chất dinh dưỡng trong thức ăn, lấy O2"' chuyển nó thành các dạng vật chất thích hợp và an toàn cho quá trình sử dụng trong tế bào. Hệ thống vận chuyển các chất dinh dưỡng: đó là hệ thống dịch ngoại bào như máu, bạch huyết, dịch kẽ, dịch não tuỷ. đặc biệt là máu. Máu là loại dịch ngoại bào quan trọng nhất trong hệ thống vận chuyển các chất dinh dưỡng đến các tế bào cơ thể.
Hoạt động tuần hoàn máu trải qua 2 giai đoạn: thứ nhất là các chất dinh dưỡng được vận chuyển trong hệ tuần hoàn tới các mô, thứ hai là sự trao đổi dịch và các chất dinh dưỡng giun mao mạch và các tế bào.Để đảm bảo cho sự vận chuyển liên tục này, cơ thể có một hệ thống bơm bao gồm tim và hệ thống mạch. Rối loạn hoạt động của hệ thống này sẽ rối loạn quá trình vận chuyển chất dinh dưỡng tới tế bào và rối loạn chức năng tế bào. - Hệ thống bài tiết các sản phẩm cặn bã trong quá trình chuyển hóa gồm hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu và da, có chức năng đào thải các sản phẩm cuối cùng của sự chuyển hóa để làm sạch nội môi. Nhờ ba quá trình trên mà thành phần nội môi được đổi mới không ngừng.
Điều hòa chức năng Trong lịch sử tiến hóa của sinh vật dã chứng minh rằng: muốn giữ được mối quan hệ cân bằng giữa các cơ quan bộ phận trong cơ thể với nhau và giữa cơ thể với môi trường đề tồn tại và phát triển thì các động vật phải hình thành cho mình một cơ chế thích ứng nhanh nhạy. Hay nói khác đi, động vật đã hình thành một phương thức tự điều chỉnh hoạt động của các cơ quan, bộ phận, điều hòa các chức năng sinh lý để ổn định nội môi và thích nghi với các biến đổi của môi trường sống. Điều hòa chức năng được thực hiện nhờ hai hệ thống thần kinh và thể dịch. Hai hệ thống này vừa có tính độc lập lại vừa phối hợp hoạt động với nhau rất chặt chẽ để tạo ra hệ thống thống nhất điều khiển cơ thể.
Trong cơ thể động vật có vô số các hệ điều khiển khác nhau, có hệ điều khiển đơn giản, có hệ điều khiển phức tạp, có hệ điều khiển ở mức tế bào, có hệ điều khiển ở mức cơ quan hoặc hệ thống cơ quan, có hệ điều 9 khiển ở mức toàn bộ cơ thể. Nhìn chung bản chất của các hệ điều khiển này đều tuân theo cơ chế điều hòa ngược (Feed bách).