chương 1, 4 (111V), 5, 9,10.S Đặng Vũ Đại, TS. Phạm Thị Nhuận, biên soạn chương 8, 13. Phan Đăng Tuất, biên soạn chương 15. Ngô Kim Thanh, Chủ nhiệm Bộ môn Quản trị doanh nghiệp chú biên.
Mặc dầu Bộ môn và nhóm biên soạn đã có rất nhiều cố gắng, nhưng do đây là môn học có nhiều nội dung và các quan điểm khác nhau, do vậy giáo trình không tránh khỏi thiểu sót. Rất mong sự nhận xét, gốp ý của các thây, cô và các bạn sinh viên để lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn. Bộ môn Quản trị doanh nghiệp xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Ban lãnh đạo nhà trường, đến Hội đông khoa học trường, đến GS. Nguyễn Đình Phan và các bạn đồng nghiệp đã có nhiều gợi ý, nhận xét và động viên trong quá trình biên soạn.
Bộ môn Quản trị doanh nghiệp HOC PHANI _ GIGI THIEU CHUNG VE QUAN TRI CHIEN LUGC a. Chuong 1 _ TONG QUAN VE QUAN T Rl CHIEN Luge Đo xu hướng quốc tế hoá cùng với sự khan hiểm các nguồn lực ngày càng gia tăng, sự phát triển như vũ bão của công nghệ, sự thay đổi nhu câu của thị trường, làm cho môi trường kinh doanh ngày còng phúc tạp và biến động thường xuyên. Với một điều kiện môi trường kinh doanh như vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh đúng đắn thì mới có khả năng nắm bắt cơ hội, tranh duoc nguy cơ, đẩm bdo sự phát triển ổn định và bên vững của doanh nghiệp. Để thấy rõ được nội dung và vai trò của chiến lược và quản trị chiến lược trong chương này giới thiệu tông quan về chiến lược, quản trị chiến lược, nguồn gốc của nó và những đặc trưng cơ bản của chiễn lược.
KHAI NIEM, DAC TRUNG VA VAI TRO CỦA CHIẾN LƯỢC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Nguồn gốc chiến lược và khói niệm chiến lược kinh doanh “Chiến lược" là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Strategos” dựng trong quân sự, nhà lý luận quân sự thời cận đại Clawzevit cũng cho rằng: Chiến lược quân sự là nghệ thuật chỉ huy ở vị trí ưu thế. Một xuất bản của từ điển Larous coi: chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để giành chiến thắng. Học giả Đào Duy Anh, trong từ điển tiếng Việt đã viết: chiến lược là các kế hoạch đặt ra để giành thắng lợi trên một hay nhiều mặt trận.
Như vậy, trong lĩnh vực quân sự, thuật ngữ chiến lược nói chung đã được coi như một nghệ thuật chỉ huy nhằm giành thắng lợi của một cuộc chiến tranh. Ter thập kỷ 60, thé ky XX, chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ "Chiến lược kinh doanh" ra đời. Quan niệm về chiến lược kinh doanh phát triển dần theo thời gian và người ta tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau. : Nam 1962, Chandler dinh nghia chiến lược như là “việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản đài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng nhự việc phân bồ các nguôn lục cần thiết để thực hiện mục tiéu nay” (Chandler, A.
Strategy and Structure. MIT Press ) Đến những năm 1980 Quinn da dua ra định nghĩa có tính khái quát hơn “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hep cdc muc tiêu chính yếu, các chỉnh sách, và chuỗi hành động vào một tong thé được cỗ kết một cách chặt chế “(Quinn, J. Strategies for Change: Logical Incrementalism. Homewood, Illinois, Irwin).
Sau d6, Johnson va Scholes dinh nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vị của một tổ chúc về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thoả mãn mong đợi của các bên hit quan” (Johnson, G. Exploring Corporate Strategy, 5'" Ed. Prentice Hall Europe) Ngoài cách tiếp cận kiểu truyền thống như trên, nhiều tổ chức kinh doanh tiếp cận chiến lược theo cách mới: Chiến lược kinh doanh là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồn lực, tài sản và tài chính nhằm mục đích nâng cao và bảo đảm những quyền lợi thiết yếu của mình. Kenneth Andrews là người đầu tiên đưa ra các ý tưởng nổi bật này trong cuốn sách kinh điển "The Cencept of Corporate Strategy".
Theo 6ng, chién lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của rnình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mỗi đe dọa. Brace Henderson, chiến lược gia đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn Tư vấn Boston đã kết nối khái niệm chiến lược với lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh là việc đặt một Công ty vào vị thể tốt hơn đối thủ để tạo ra gia tri về kinh tế cho khách hàng. "Chiến lược là sự tìm kiểm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thể cạnh tranh của tổ chức.
Những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thé của bạn", Ông tin rằng không thể cùng tồn tại hai đối thủ cạnh tranh nếu cách kinh doanh của họ giống hệt nhau. Cần phải tạo ra sự khác biệt mới có thể tồn tại. Michael Porter cũng tán đồng nhận định của Henderson: "Chiến lược cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt. Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt động khác biệt để tạo ra một tập hợp giá trị độc đáo".
Diu tiép can theo cach nao thi ban chất của chiến lược kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động và khả năng khai thác. Theo cách hiểu này, thuật ngữ chiến lược kính doanh được dùng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất: - Xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. - Đưa ra các chương trình hành động tông quát. - Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bỗ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó.
Ngày nay, thuật ngữ chiến lược đã được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam trong nhiêu lĩnh vực ở cả phạm vi vĩ mô cũng như vi mô. Ở phạm vì doanh nghiệp ta thường gặp thuật ngữ chiến lược kinh doanh hoặc chiến lược công ty, quản trị chiến lược. Sự xuất hiện các thuật ngữ này không đơn thuần là sự vay mượn. Các khái niệm chiến lược đều bắt nguồn từ sự cần thiết khách quan trong thực tiễn quản trị của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường hiện nay.
Có thể nói việc xây dựng và thực hiện chiến lược thực sự đã trở thành một nhiệm vụ hàng đầu và là một nội dung, chức năng quan trọng của quản trị doanh nghiệp, nó đang được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, Quan điểm phổ biến hiện nay cho rằng: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiến chúng nhằm đạt tới mục tiêu đài hạn của đoanh nghiệp”. Coi chiến lược kinh doanh là một quá trình quản trị đã tiến tới quản trị doanh nghiệp bằng tư duy chiến lược với quan điểm: Chiến lược hay chưa đủ, mà phải có khả năng tổ chức thực hiện tốt mới đảm bảo cho doanh nghiệp thành công. Quản trị doanh nghiệp mang tầm chiến lược. Đây chính là quan điểm tiếp cận đến quản trị chiến lược phổ biến hiện nay.
Những đặc trưng cơ bản củo chiến lược Tuy còn có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về phạm trù chiến lược song các đặc trưng cơ bản của chiến lược trong kinh doanh được quan niệm tương đối thống nhất. Các đặc trưng cơ bản đó là: - Chiến lược xác định rõ những mục tiêu cơ bản phương hướng kinh doanh cần đạt tới trong từng thời kỳ và được quán triệt đầy đủ trong các lĩnh vực hoạt động quản trị của doanh nghiệp. Tính định hướng của chiến lược nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và vững chắc trong môi trường kinh doanh thường xuyên biến động. - Chiến lược kinh doanh chỉ phác thảo những phương hướng hoạt động của đoanh nghiệp trong dài hạn, khung hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai.
Nó chỉ mang tính định hướng còn trong thực tiễn hoạt động kinh doanh đồi hỏi phải kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu kinh tế, xem xét tính hợp lý và điều chỉnh cho phù hợp với môi trường và điều kiện kinh doanh để đảm bảo hiệu quả kinh doanh và khắc phục sự sai lệch đo tính định hướng của chiến lược gây ra. - Chiến lược kinh đoanh được xây dựng trên cơ sở các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo huy động tối đa và kết hợp tốt với việc khai thác và sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài sản lực cả hữu hình và vô hình), năng lực côt lõi của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lài nhằm phát huy những lợi thế, nắm bắt cơ hội để giành ưu thế trong cạnh tranh. - Chiến lược kinh doanh được phản ánh trong cả một quá trình liên tục từ xây dựng, đến tổ chức thực hiện, đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh chiến : lược. - Chiến lược kinh doanh luôn mang tư tưởng tiến công giành thắng lợi trong cạnh tranh.
Chiến lược kinh doanh được hình thành và thực hiện trên cơ sở phát hiện và tận dụng các cơ hội kinh doanh, các lợi thế so sánh của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao. ~ Mọi quyết định chiến lược quan trọng trong quá trình xây dựng tổ chức thực hiện, đánh giá và điều chỉnh chiến lược đêu được tập trung vào nhóm quản trị viên cấp cao. Để đảm bảo tính chuẩn xác của các quyết định đài hạn, sự bí mật thông tin trong cạnh tranh. Vơi trò của chiến lược kinh doanh Với những đặc trưng đó, có thể nói rằng trong cơ chế thị trường việc xây đựng, thực hiện chiến lược kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Lịch sử kinh doanh trên thế giới đã từng chứng kiến không ít người gia nhập thương trường kinh doanh từ một số vốn ít ỏi, nhưng ho đã nhanh chóng thành đạt và đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác nhờ có được chiến lược kinh doanh đúng. Chiến lược kinh doanh được ví như bánh lái của con tàu để nó vượt được trùng khơi về trúng đích khi mới khởi sự doanh nghiệp. Nó còn được ví như cơn gió giúp cho diều bay lên cao mãi.