Chương 1 T Ỏ N G Q U A N VÈ VÙNG VÀ PHÂN VÙNG 1. QUAN NIỆM VỀ VÙNG 1. M ột sổ khái niệm liên quan đến vùng 1. K hái niệm không gian và lãnh thồ Không gian, thời gian là một cặp phạm trù của triết học Mác - Lênin, dùng để chi về một phương thức tồn tại cùa vật chất (cùng với phạm trù vận động), trong đó không gian chi hình thức tồn tại của khách thể vật chất ở vị trí nhất định, kích thước nhất định và ờ một khung cảnh nhất định trong tương quan với những khách thể khác.
Theo quan điểm triết học, không gian là hình thức tồn tại của các khách thể và các quá trình vật chất được đặc trung bằng cấu trúc và quảng tính của các hệ thống vật chất; còn thời gian là hình thức thay thế kế tiếp nhau của các hiện tượng và các trạng thái của vật chất được đặc trưng bằng độ dài tồn tại của chúng. Trong giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy con người luôn tồn tại hoạt động và phát triển của các quá trình đối lập nhau, trong đó có quá trình phân hóa và quá tìn h tổng hợp. Dưới góc độ không gian, quá trình phân hóa trong tự nhiên dẫn đến sự xuất hiện các thành tố tự nhiên, các tổng thề tự nhiên mang những đặc trưng khác nhau, với những quy mô khác nhau. Đến lượt mình, bên trong các thành tố và tổng thể tự nhiên ấy lại diễn ra quá trình tổng hợp hóa.
Sự vận động kết hợp, thống nhất của haỉ quá trình này tạo ra các không gian đa dạng, muôn màu, muôn vẻ về chiều dài, chiều rộng và chiều cao (chiều sâu). Các không gian đó thường được hiểu như là các không gian địa lí được xác định bởi các tọa độ khác nhau. Lãnh thổ được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, nhưng theo cách hiểu phổ thông nhất, lãnh thổ là một khoảng không gian thuộc chủ quyền của một quốc gia có vị trí địa lí nhất định, có hình dạng, kích thước và quy mô xác định mà ở đó diễn ra các hoạt động sản xuất và đời sống một cách thường xuyên, liên tục. Lãnh thổ là một thực thể hay một hệ thống tự nhiên, kinh tế - xã hội.
Đó là một bộ phận của bề mặt Trái đất (tức là một không gian địa lí xác định) thuộc quyền sở hữu của một quốc gia nhất định, được xác định bời một văn bản pháp quy. Lãnh thổ được giới hạn trong đường biên giới quốc gia. Lãnh thổ cỏ thể bao gồm cả đất liền và vùng biển, lãnh hải, khoảng không gian trên đất liền và trên vùng lãnh hải. Xét dưới khía cạnh quản lí đất nước, lãnh thổ - đó là một bộ phận của bề mặt Trái đất thuộc quyền tài phán của một quốc gia, bao gồm: phần đất liền, nội thuỳ, lành hải vùng đặc quyền kinh tế, lòng đất, vùng trời thuộc chủ quyền.
Giới hạn của lãnh thổ là đường biên giới quốc gia (trên đất liền và vùng lãnh hải). Theo nghĩa đầy đù, lãnh thổ là thể thống nhất, hay nói chung là một thực thể được tổ chức bời các cộng đồng xã hội. Đó là nơi sinh sống của cộng đồng xã hội, được cộng đồng này chiếm giữ để đảm bảo sự cung cấp các nhu cầu thiết yếu và sự tái sinh sản của chính nó. Các yếu tố quyết định đặc trưng cơ bản của một lãnh thổ là vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên tự nhiên, các cơ sở sản xuất và dịch vụ, các điểm dân cư, cơ sở cấu trúc hạ tầng, các quan hệ kinh tế, thị trường, lịch sử xã hội,.
Việc xác định các yếu tố đặc trưng lãnh thổ làm cơ sờ để nghiên cứu, đề xuất quy hoạch, dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng. Khái niệm không gian kinh tế Trong lí thuyết kinh tế vùng, không gian có thể được tiếp cận theo hai hướng khác nhau (Lê Thu Hoa, 2007). Hướng thứ nhất, không gian là nguồn lực tự nhiên cung cấp các "đầu vào" cho các quá trình kinh tế, cung cấp các điều kiện sống (vật thể và phi vật thể) cho con người với tư cách là yếu tố quan trọng và quyết định của các quá trinh kinh tế. Hướng thứ hai, xem không gian như là một ttở lực, ngăn cản các hoạt động bình thường, đều đặn của các quá trình kinh tế cần được khắc 10 phục.
Chẳng hạn, khoảng cách xa từ nơi khai thác và cung cấp nguyên vật liệu đến nơi sản xuất, từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ sản phẩm sẽ làm tăng chi phí, tăng giá thành hàng hóa và dịch vụ. Trong cả hai trường hợp, nguời ta thuờng sử dụng phương pháp phân tích kinh tế để định vị các tác nhân kinh tế và xác định các hình thức tổ chức các hoạt động kinh tế phù hợp. Như vậy, không gian kinh tế được hình thành khi áp dụng các biến số (các quan hệ) kinh tế vào một không gian địa lí cụ thể để mô tà và phân tích các quá trình kinh tế diễn ra trong đó. Ở mức độ nào đó, không gian kinh tế là không gian trừu tượng.
Tùy theo các mục tiêu nghiên cứu hay khảo sát nhằm rút ra những quy luật nào đó về phát triển kinh tế, trong phạm vi của một quốc gia, có thể có các loại không gian kinh tế sau: - Không gian kinh tế được xác định bời kế hoạch mà các khoảng cách trong không gian này được đo bằng giá cà và chi phí, tức là được xác định bởi các yếu tố bên ngoài kế hoạch. - Không gian kinh tế được xác định nhu là trường của các lực - trường lực, bao gồm các trung tâm (các cực) và từ đây các lực ly tâm lan tỏa ra ngoại vi và từ ngoại vi các lực hướng tâm hướng tới. - Không gian kinh tế được xác định như là một tổ hợp đồng nhất mà trong không gian này các hãng (công ty, doanh nghiệp) khác nhau được định vị gần như nhau và giá cả hàng hỏa, dịch vụ được đặt ra ở mức xấp xỉ nhau đối với tất cả các khách hàng ở ưên cùng một khoảng vật lí. Quan niệm về vùng Cho đến nay, các công trình nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước có các cách tiếp cận khác nhau khi xem xét khái niệm về vùng, từ đó người ta xác định cơ sở cho việc nghiên cứu vùng, quy hoạch và tổ chức lãnh thổ.
Theo Từ điển Bách khoa Xô Viết (1988), vùng là một lãnh thổ được tách ra trên cơ sở tập hợp các dấu hiệu có quan hệ mật thiết với nhau, là một cấp phân vị trong hệ thống phân chia lãnh thổ. Vùng là một lãnh thổ toàn vẹn được đặc trưng bởi sự đồng nhất về nguồn gốc, 11 về các bộ phận có quan hệ qua lại với nhau của lớp vỏ địa lí hoặc của nền sản xuất xã hội. Cũng theo cách hiểu này (Lê Bá Thào, 1997), vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó, cũng như những mối quan hệ có chọn lọc với không gian và với các cấp bên ngoài. Ở nước ta, trong một số trường hợp, thuật ngữ “vùng” chưa được phân biệt rõ ràng.
Các nhà khoa học thường dùng các thuật ngữ “vùng” khi nghiên cứu tiếp cận theo khía cạnh lãnh thổ như “vùng đồng bàng sông Hồng”, “vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc”,. Người dân (và hiện nay cả các cấp lãnh đạo) thường sử dụng từ này để chi một lãnh thổ nhất định, có kích thước thay đổi không xác định như “vùng đồi núi”, “vùng đồng bằng”, “vùng sâu, vùng xa”, “vùng khỏ khăn”. Thậm chí, trong quy hoạch lãnh thổ của một địa phương (cấp tinh hay huyện) khi đề cấp đến sự phân hóa lãnh thổ, người ta cũng sử dụng khái niệm “vùng” hay “khu vực”. Dù nhìn nhận dưới góc độ nào, xét về mặt quản lí lãnh thổ, hiện nay không chi các nhà khoa học, các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phuơng, các nhà doanh nghiệp và phần đông người dân đều nhận thấy rằng: giữa cấp Nhà nước Trung ương và cấp tinh phải cỏ một cấp trung gian nào đó mà người ta gọi là “vùng”.
Lãnh thổ của vùng trong trường hợp này bao gồm một sổ địa phương (cấp tinh), thông thường có những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội hay lịch sử tương đổi đồng nhất. v ề phưcmg diện địa lí học (Lê Thông, 2010), vùng là một bộ phận lãnh thồ toàn vẹn thường được đặc trưng bàng sự đồng nhất về nguồn gốc, về các bộ phận có quan hệ qua lại với nhau của lởp vỏ địa lí hoặc của nền sản xuất xã hội. Trên góc độ quản lí đất nước, vùng được quan niệm là cấp trung gian giữa quốc gia và tinh, vùng bao gồm một số tình và một quốc gia có nhiều vùng. Vùng nói chung có những dấu hiệu đặc trưng cơ bàn sau: - Vùng là một không gian địa lí, một lãnh thổ xác định thuộc quyền sờ hữu của một quốc gia.
Lãnh thổ này có các đặc trưng về vị trí địa lí, hình dáng lãnh thổ, kích thước và quy mô xác định. Vùng có nhiều cấp phân vị theo quy mô (về điện tích, dân số, quy mô của các 12 hoạt động kinh tế - xã hội). Ranh giới vùng và số lượng vùng của một quốc gia thay đổi theo các giai đoạn phát triển khác nhau. - Vùng là một thực thể khách quan, trong đó tồn tại những yếu tố tự nhiên (địa hình, đất đai, khí hậu, động thực vật, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước.), các yếu tố xã hội (dân cư và nguồn lao động, dân tộc, văn hóa, lịch sử.), các yếu tố kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, thương mại dịch vụ, cơ sờ vật chất kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động kinh tế).
Các yếu tố trên chính là các nhân tố tạo vùng và tạo thành một thể thống nhất, có quan hệ qua lại tác động lẫn nhau. Ở mỗi vùng, liên tục diễn ra các quá trình tự nhiên, nhân khẩu học, kinh tế - xã hội ở các mức độ khác nhau. Các quá trình này có bản chất khác nhau, cùng tồn tại và hoạt động theo những quy luật riêng của mình, nhưng đều là những khâu tất yếu của chu trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin vận hành liên tục trong không gian, thời gian. - Theo quan điểm cấu trúc hệ thống, vùng là một thực thể khách quan nhưng không tồn tại độc lập.