mở đầu | 27] toàn với các môn học khác. Điểu này góp phan tạo nên tính độc lập tương đổi của môn QHỌT. Một yêu cầu nữa về mặt phương pháp luận cũng phản ánh tính độc lập tương đối của môn QHỌT - đó là cấp độ phân tích (Leuel oƒ Analsis). Việc đứng trên các cấp độ phân tích khác nhau giúp tìm hiểu các nguyên nhân, điểu kiện và nhân tố tác động lên hién twong QHOT.
Về đại thể, có 4 cấp độ phân tích chính: - Câp độ cá nhân (Individual Level) doi hoi phan tich QHOT phai tính đến tâm lý, nhận thức cá nhân, sự lựa chọn quyết định và hành động của những cá nhân tham gia. Trong đó, đặc biệt phải chú ý đên vai trò của các nhà lãnh đạo hay những người thường có ảnh hưởng trong hoạch định chính sách đối ngoại và thực thi QHOT. | - Cấp độ quốc gia (State Level) hay con gọi là cấp độ trong nudc (Domestic Level) hay cấp độ xã hội (Societal Leoel) đòi hỏi phân tích QHQT phải tính đến các nhóm hay lực lượng bên trong quốc gia thường có ảnh hưởng lên hành động của nhà nước trong quan hệ đối ngoại của quốc gia. Các nhóm này thường là nhóm lợi ich (Interest group).
- Cap độ lién quéc gia (Interstate Level) hay cap dé quéc tế (International Level) doi hoi khi nghién ctru phai tinh dén tương tác giữa các quốc gia trong quá trình hình thành động cơ, lựa chon hành vi và kết quả của m6i QHOT nao đó. - Cap độ hệ thống (Sysfemic Leuel) đòi hỏi khi nghiên cứu phải tính đến tác động từ hệ thống quốc tế mà quốc gia là một bộ phận trong đó. Cấp độ này có thể chia ra làm hai cấp độ khu vực (Regiormal leuel) và cấp độ toàn cầu (Global leoel). Trong tổng cấp độ, khi nghiên cứu phải tính đến tác động từ các xu thế và những lực lượng khu vực hay toàn cầu.
Như vậy, cho dù có sự chổng lấn với một số môn học khác nhưng xét về tổng thể, phương pháp nghiên cứu của môn QHỢT GIÁO TRINH NHAP MON QUAN HE QUOC TE. không có sự trùng lặp hoàn toàn với các môn học đó. Điều này góp phẩn đem lại tính độc lập tương đối của môn QHỌT. MỘT SỐ LÝ THUYẾT CHỦ YẾU TRONG NGHIÊN CỨU QUAN HỆ QUỐC TẾ Lý thuyết là tập hợp các quan điểm có chung một cơ sở lý luận và tương đối bao quát về một vùng nghiên cứu nào đó.
Trong QHỌT có nhiều lý thuyết. Mỗi lý thuyết là một cách lý giải QHỌT khác nhau dựa trên cách tiếp cận khác nhau. Trong số các lý thuyết này, nổi bật hơn cả là Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do, quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về QHỌT và Chủ nghĩa Kiến tạo. Chủ nghĩa Hiện thuc (Realism) Chủ nghĩa Hiện thực tập trung nghiên cứu các vấn để chính trị quốc tế nên còn được gọi là Chủ nghĩa Hiện thực chính trị.
Chủ nghĩa Hiện thực là lý thuyết QHỌT có lịch sử lâu đời nhất với những tư tưởng đầu tiên có từ trước Công nguyên. Cac hoc gia tién bối của Chủ nghĩa Hiện thực là Thucydides, Nicollo Machiavelli va Thomas Hobbes. Sau nam 1945, ly thuyét nay da dugc Hans Morgenthau tập hợp và được hàng loạt học giả khác phát triển thêm để trở thành một lý thuyết tương đối bao quát về QHỌT. Chủ nghĩa Hiện thực đã có ảnh hưởng lớn đến lý luận và thực tiễn QHỌT trong thời kỳ Chiến tranh lạnh.
Các luận điểm cơ bản của Chủ nghĩa Hiện thực là: - Thế giới mà bên trong các quốc gia đang tồn tại có đặc tính là vô chính phủ, tức là không có một quyển hành nào ở trên các quốc gia. Bởi thế, môi trường của QHỌT là vô chính phủ (Anarchu). Chủ nghĩa Hiện thực cho rằng môi trường vô chính phủ sẽ là bất biến. Bài mở đầu | - Trong QHQT, quéc gia là chủ thể cơ bản.
Đặc điểm của chủ thể quốc gia này là chủ thể nhất thể và có ly tri. Nhat thé (Unitary) có nghĩa quốc gia là một và thống nhất trong quan hệ với bên ngoài. Có lý trí (RaHional) tức là luôn tính toán để đạt được lợi ích cao nhat trong QHQT. - Do bản chất con người là ích kỷ và tư lợi (Egoismn) và lại sống trong môi trường vô chính phủ nên chủ nghĩa quốc gia (tức là vị kỷ) là nhận thức chính chỉ phối hành động của quốc gia.
Vì thế, sự cạnh tranh lẫn nhau giữa các quốc gia là không tránh khỏi. - Vì phải cạnh tranh lẫn nhau nên mục đích của quốc gia chính là sự tổn vong (Survival) cua minh. An ninh quéc gia là để đảm bảo cho sự tổn vong nên đã trở thành sự quan tâm lớn nhất của quốc gia. Từ đó, đối với quốc gia, chủ quyển quốc gia là tối cao và lợi ích quốc gia là tối thượng.
- Sống trong môi trường vô chính phủ vốn không ai lo cho mình, sống trong sự cạnh tranh thường xuyên với các quốc gia khác, quốc gia phải tự lực (se[fˆhelp). Khi phải tự lực, quốc gia cần có quyển lực (Poøer) để có thể tổn tại được. Các quốc gia cần có quyển lực là để đảm bảo an ninh quốc gia, chủ quyển quốc gia và lợi ích quốc gia. Quyển lực chính là mục tiêu cơ bản của chính sách đổi ngoại và là phương tiện chủ yếu mà quốc gia sử dụng trong QHỌTT.
Vì thế, mọi quốc gia đều theo đuổi quyển lực trên trường quốc tế và tìm cách tối đa hoá quyển lực của mình. - Do quan hệ quyển lực giữa các quốc gia luôn có tổng số bang 0 (Zero sum game), tức là sự thăng tiến quyển lực của chủ thể này cũng đồng thời là sự suy giảm quyển lực của chủ thể kia, cho nên cạnh tranh quyển lực là không tránh khỏi trong QHỢỌT. Vì thế, nên chính trị quốc tế sẽ là cuộc đấu tranh vì quyển lực. Cạnh tranh quyển lực quy định tình trang xung dot trong QHOT và dễ dẫn đến chiến tranh.
Như vậy, xung đột là tuyệt đối và là bản chat của QHQT. GIAO TRINH NHAP MON QUAN HE QUOC TE - Dé duy trì ổn định và trật tự, Chủ nghĩa Hiện thực đề cao việc thiết lập cân bang quyén lie (Balance of power). Cân bằng quyển lực được coi là có thể giúp ngăn chặn chiến tranh, hạn chế chạy đua vũ trang. Ngoài ra, cân bằng quyển lực còn được cho là giúp ngăn chặn sự thống trị hay sự vượt trội quyển lực của quốc gia nào đó.
- Xét về tổng thể, đối với Chủ nghĩa Hiện thực, QHỌT được ví như mô hình bị a (Billiard Ball Model). Trong đó, quốc gia là những viên bi a nhất thể và chỉ biết đến mình. Quan hệ giữa chúng chủ yếu là va đập, tức xung đột. Trong quá trình va đập, những hòn _ nhỏ hơn (quyển lực thấp hơn) thường bị bất lợi hơn so với những hòn lớn (quyển lực lớn hơn) khi bị dừng lại hoặc bị đẩy văng đi trong khi các hòn lớn vẫn tiếp tục đi theo hướng của mình dù có thể bị chậm lại.
Chủ nghĩa Hiện thực bị phê phán nhiều nên một số học giả đã cố gắng khắc phục những nhược điểm của nó. Cố gắng nổi bật nhất là của Kenneth Waltz với việc hình thành Chủ nghĩa Hiện thực Mới (Neo-realism) hay còn được gọi là Chủ nghĩa Hiện thực Cau tric (Structural Realism) vao nam 1979. Về đại thể, Chủ nghĩa Hiện thực Mới vẫn giữ những quan niệm cơ bản của Chủ nghĩa Hiện thực. Sự khác nhau cơ bản giữa Chủ nghĩa Hiện thực cổ điển và Chủ nghĩa Hiện thực Mới là về mặt phương pháp luận.
Chủ nghĩa Hiện thực coi QHỢI đơn thuần chỉ là sự tương tác giữa các quốc gia, còn Chủ nghĩa Hiện thực Mới bổ sung thêm vai trò của hệ thống quốc tế như một nhân tố bên ngoài tác động và chi phối QHỌT. Với Chủ nghĩa Hiện thực Mới, OHOT được coi như sự tương tác giữa phần tử trong hệ thống. Từ đó, trường phái này nhẫn mạnh tới việc phân tích QHỌT trên cấp độ hệ thống và để cao vai trò tác động cua cau trúc hệ thông. Chu nghia Tw do (Liberalism) Chủ nghĩa Tự do cũng là lý thuyết QHỌT' có lịch sử lâu đời tuy có muộn hơn so với Chủ nghĩa Hiện thực.
Những ý tưởng đầu tiên trong truyển thống tư duy tự do có thể tìm thây từ thời cận đại với các đại biểu như Erasmus, John Locke, William Penn, Jeremy Bentham,. va nhat 1a Immanuel Kant. Chủ nghĩa Tự do có ba giai đoạn phát triển chính là Chủ nghĩa Quốc tế tự do, Chủ nghĩa Lý tưởng và Chủ nghĩa Tự do Mới. Trong đó, Chủ nghĩa Tự do Mới hay còn được gọi là Chủ nghĩa Thể chế Tự do Mới (Neo- Liberal Institutinalism) xuất hiện muộn nhất trong Chiến tranh lạnh nên có sự kế thừa, bổ sung và phát triển thêm nhiều.
Học giả nổi bat nhat cua trường phái này là Robert Keohan. Về đại thể, nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Tự do Mới gồm mấy điểm sau: - Thừa nhận môi trường quốc tế vô chính phủ vẫn tiếp tực tổn tại, song Chủ nghĩa Tự do Mới cho rằng trong môi trường này, không chỉ có mỗi xung đột mà còn có cả hợp tác. Không những thế, môi trường vô chính phủ có thể được khắc chế bằng thể chế, luật lệ,. để hợp tác có thể phổ biến trong môi trường vô chính phủ.
- Thừa nhận quốc gia vẫn là chủ thể quan trọng nhưng không phải là duy nhất, Chủ nghĩa Tự do Mới cho rằng bên cạnh quốc gia, còn có các chủ thể phi quốc gia khác như tổ chức quốc tế, công ty xuyên quốc gia,. QHQT xuất phát từ nhiều loại hình chủ thể khác nhau chứ không phải chỉ mỗi quốc gia. Chủ nghĩa này cũng cho rằng các chủ thể phi quốc gia đang ngày càng tăng lên và làm cho vai trò của quốc gia bị giảm đi. - Khác với Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do Mới cho rằng quốc gia không phải là nhất thể mà gồm nhiều nhóm khác nhau cùng xác định lợi ích quốc gia và tham gia hoạch định chính sách đối ngoại.
Điểu này dẫn đến yêu cầu vận dụng cấp độ phân tích trong nước vào nghiên cứu QHỌT. GIAO TRINH NHAP MON QUAN HE QUOC TE - Quốc gia và con người không chỉ quan tâm tới lợi ích an ninh và quyển lực mà còn theo đuổi nhiều lợi ích quan trọng khác như thịnh vượng, phúc lợi, môi trường,. Vì thế, lợi ích quốc gia và con người là đa đạng. Trong các lợi ích của con người và quốc gia, có cả lợi ích riêng và lợi ích chung.
Do đó, Chủ nghĩa Tự do Mới cho rằng hoàn toàn có khả năng hòa hợp lợi ích giữa các quốc gia, nhất là đối với những lợi ích chung.