Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỐNG KÊ HỌC Thống kê là khoa học thu thập, tổng hợp, phân tích và dự đoán dữ liệu. Thông tin thống kê có vai trò quan trọng phục vụ cho công tác quản lý vĩ mô cũng như trong doanh nghiệp. Là một môn khoa học độc lập, thống kê có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng. Trong chương này sẽ đề cập những vấn đề khái quát chung của khoa học thống kê, bao gồm: Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển, đối tượng nghiên cứu, một số khái niệm cơ bản và tổ chức công tác thống kê hiện nay ở Việt Nam.
Nghiên cứu nội dung chương này giúp người học có được nhận thức về những vấn đề tổng quan chung của khoa học thống kê. Đối tượng nghiên cứu của thống kê học Thuật ngữ thống kê được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau: Thống kê là một môn khoa học, nghiên cứu việc biểu hiện các hiện tượng kinh tế, xã hội bằng con số. Thống kê là một công cụ của nhận thức, được sử dụng trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội. Thống kê là một hình thức hoạt động thực tiễn của con người nhằm thu thập, tổng hợp, phân tích các số liệu thống kê về dân số, kinh tế, văn hoá, giáo dục và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Giữa khoa học thống kê và công tác thống kê có mối liên hệ mật thiết với nhau. Khoa học thống kê sử dụng số liệu thực tiễn để củng cố về phương pháp và phương pháp luận. Ngược lại, thống kê thực tiễn sử dụng khoa học thống kê để giải quyết các yêu cầu thực tế của đời sống xã hội. Trong lịch sử, những ý tưởng và phương pháp thống kê phát triển cùng với sự phát triển trên cơ sở nhu cầu của xã hội về thu thập và sử dụng thông tin.
Do vậy, trước khi nghiên cứu nội dung môn học, việc tìm hiểu sơ lược về sự ra đời và phát triển của khoa học thống kê là cần thiết. Sơ lược sự ra đời và phát triển của thống kê học Thống kê học là môn khoa học ra đời và phát triển do nhu cầu thực tiễn của xã hội. Để trở thành một môn khoa học phát triển như ngày nay, nó đã phải trải qua một quá trình phát triển lâu dài gắn liền với những mốc lịch sử phát triển của xã hội loài người. Đây là một quá trình đúc kết dần kinh nghiệm thành lý luận khoa học hoàn thiện như ngày nay.
Mỗi một mốc lịch sử phát triển xã hội có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động thống kê, vì Thống kê học phục vụ cho lợi ích của một giai cấp nhất định. Ngay từ thời cổ đại, con người đã biết chú ý tới việc đăng ký, ghi chép và tính toán số người trong bộ tộc, số hoa quả hái lượm được, số súc vật săn bắn được… Mặc dù việc ghi chép còn rất đơn giản và thô sơ trên một phạm vi rất hẹp, nhưng nó chính là những hoạt động ban đầu mang tính chất thống kê. Trong xã hội phong kiến, hầu hết các quốc gia Á, Âu đều tổ chức việc đăng ký, kê khai số dân, ruộng đất, tài sản… với phạm vi rộng hơn, có tính thống kê rõ hơn. Tuy nhiên, công tác đăng ký này còn mang tính tự phát, thiếu khoa học.
Ở giai đoạn này thống kê đã có những bước phát triển rõ rệt nhưng chưa thực sự trở thành một môn khoa học độc lập. Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đòi hỏi các nhà khoa học phải nghiên cứu lý luận cũng như phương pháp thu thập, tính toán và phân tích mặt lượng của các hiện tượng kinh tế - xã hội. Năm 1660, nhà kinh tế học người Đức H. Conhring đã giảng về phương pháp nghiên cứu hiện tượng xã hội dựa vào số liệu điều tra cụ thể.
Năm 1682, William Petty, nhà kinh tế học người Anh đã xuất bản cuốn “Số học chính trị”; đây là tác phẩm thống kê đầu tiên, trong đó tác giả nghiên cứu các hiện tượng xã hội bằng cách tổng hợp, so sánh các con số. Kark Mark đã gọi William Petty là người sáng lập ra môn thống kê học. Trong những giai đoạn lịch sử tiếp theo, với sự ra đời của “Lý thuyết xác suất và thống kê toán” đã có sự ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thống kê học. Kể từ đó thống kê có sự phát triển mạnh mẽ và ngày càng hoàn thiện về lý luận và phương pháp.
12 Ngày nay, thống kê được coi là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, có vai trò cung cấp thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngắn hạn và dài hạn. Trên giác độ vi mô, thống kê có vai trò cung cấp thông tin đánh giá mặt lượng các hoạt động kinh tế - xã hội của các đơn vị cơ sở. Những thông tin thống kê có vai trò quan trọng phục vụ cho công tác quản lý và ra quyết định đối với mọi cấp, mọi ngành cũng như trong tổ chức hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. Đối tượng nghiên cứu của thống kê học Mỗi môn khoa học độc lập đều có đối tượng nghiên cứu riêng của nó, đối tượng nghiên cứu phản ánh khái quát nội dung nghiên cứu của môn học và giới hạn phạm vi môn học.
Sự giới hạn về phạm vi nghiên cứu giúp hình thành nên những ranh giới để phân biệt môn học này với môn học khác. Nắm vững được đối tượng nghiên cứu của môn học, không những làm rõ nội dung cơ bản của môn học, thấy được nét đặc thù và qua đó hiểu rõ được ý nghĩa, tác dụng của môn học, đồng thời còn giúp xác định phương pháp nghiên cứu môn học. Thống kê học là một môn khoa học có đối tượng và phương pháp nghiên cứu độc lập. Đối tượng nghiên cứu của khoa học thống kê được thể hiện qua những đặc trưng cơ bản sau đây: + Thống kê học nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội.
Các hiện tượng kinh tế - xã hội bao gồm: - Về kinh tế: Quá trình tái sản xuất mở rộng của cải vật chất xã hội, quá trình sản xuất của các ngành, tình hình sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tình hình phân phối sản phẩm xã hội theo hình thức sở hữu, tình hình sử dụng tài nguyên và các sản phẩm xã hội cũng như hiệu quả của việc sử dụng nó, … - Về xã hội: Dân số (số nhân khẩu, cấu thành của nhân khẩu, tình hình biến động về nhân khẩu); Giáo dục: Trình độ văn hoá; Y tế: Tình hình chăm sóc sức khoẻ, tình hình tiêm chủng cho trẻ sơ sinh… 13 - Về các hoạt động chính trị: Số người tham gia biểu tình, mít tinh, bầu cử quốc hội, hội đồng nhân dân, cơ cấu đại biểu quốc hội, tình hình tội phạm, … Thống kê học chủ yếu nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội, song hiện tượng tự nhiên có mối quan hệ chặt chẽ với các hiện tượng kinh tế - xã hội. Vì vậy, thống kê nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên (điều kiện địa lý, thời tiết, khí hậu…) và của các yếu tố kỹ thuật (việc phát minh sáng chế, cải tiến công cụ sản xuất…) đối với sự phát triển sản xuất và điều kiện sinh hoạt xã hội. Như vậy, phạm vi nghiên cứu của thống kê học rất rộng bao gồm cả những hiện tượng kinh tế - xã hội thuộc lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả những hiện tượng kinh tế - xã hội thuộc cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. + Thống kê học nghiên cứu mặt lượng, nhưng không phải mặt lượng đơn thuần mà là mặt lượng trong sự liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng kinh tế - xã hội.
Không giống với các môn khoa học khác, thống kê học không trực tiếp nghiên cứu bản chất và quy luật của hiện tượng xã hội mà nghiên cứu nó thông qua những biểu hiện về lượng, cụ thể là con số thống kê. Mỗi một hiện tượng bao giờ cũng có 2 mặt: Mặt chất và mặt lượng tồn tại trong quan hệ mật thiết không thể tách rời, giữa chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau. - Mặt chất: Đó là bản chất trìu tượng của hiện tượng, được biểu hiện qua nội dung, ý nghĩa, tính quy luật, bản chất cụ thể. Chất của hiện tượng giúp ta phân biệt hiện tượng này với hiện tượng khác.
- Mặt lượng: Biểu hiện cụ thể của mặt chất được thể hiện bằng con số nói lên quy mô, kết cấu, quan hệ về lượng, tốc độ phát triển, trình độ phổ biến… của hiện tượng nghiên cứu. Mặt lượng cho ta thấy hiện tượng ở mức độ nào, trình độ phổ biến ra sao, lớn hay nhỏ, cao hay thấp, nặng hay nhẹ, nhanh hay chậm. Mỗi lượng cụ thể đều gắn với một chất nhất định, ngược lại một chất lại được biểu hiện bằng một lượng. Chính vì vậy, nghiên cứu lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn, việc tìm hiểu 14 cả hai mặt của hiện tượng đều quan trọng như nhau.
Trong hoạt động thực tiễn nếu không hiểu đầy đủ mặt lượng của hiện tượng sẽ dẫn tới những quyết định xa rời thực tế. Mặt chất của hiện tượng kinh tế - xã hội được nhiều môn khoa học nghiên cứu còn mặt lượng của nó là đối tượng nghiên cứu của thống kê học. Thông qua mặt lượng, thống kê giúp ta xác định bản chất cụ thể của hiện tượng nghiên cứu. Các số liệu thống kê có thể phản ánh được mặt chất của hiện tượng, vì chất và lượng là hai mặt không thể tách rời nhau của sự vật hay hiện tượng, giữa chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau.
Quan điểm Triết học đã khẳng định: “Lượng là biểu hiện cụ thể của chất, chất tồn tại thông qua lượng, lượng đổi thì chất đổi”. Như vậy, hiện tượng không thể có chất mà không có lượng, ngược lại không thể có lượng mà không có chất, sự biến đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất. Chính vì vậy, nghiên cứu mặt lượng của hiện tượng có ý nghĩa to lớn đối với việc nhận thức bản chất và quy luật phát triển của hiện tượng. Thống kê học nêu ra những lý luận và phương pháp để biểu hiện và phân tích được quy mô, kết cấu, quan hệ so sánh, trình độ phổ biến, tốc độ và xu hướng phát triển của hiện tượng kinh tế - xã hội.