CHƯƠNG I NHUNG VAN DE LY LUAN VE NGOAI GIAO KINH TE I. Khai niém Ngoai giao kinh té 1.1 Những quan niệm khác nhau về Ngoại giao kinh tế Trong lịch sử quan hệ quốc tế, các quốc gia đã từng sử dụng nhiều chính sách, biện pháp ngoại giao khác nhau như “Ngoại giao Câu Tiến”, “Ngoại giao pháo hạm”, “Ngoại giao bóng bàn”, “Ngoại giao nhà nước”, “Ngoại giao nhân dân”, “Ngoại giao kinh tế” (NGKT). Ngày 12/2/2014, Nhật Bản còn thành lập ủy ban thúc đây “Ngoại giao thể thao”? để chuẩn bị cho Thế vận hội (Olympic) và Paralympic nam 2020 6 Tokyo. Cuba da tién hanh ngoai giao y tế.
Trung Quốc còn có Ngoại giao “Gấu trúc”, “Ngoại glao giáo dục”, “Ngoại glao vịt quay”. Thậm chí, biến đổi khí hậu cũng trở thành một lĩnh vực để thúc đây Ngoại giao.Các chính sách, biện pháp trên, thường bị một mục tiêu chiến lược chỉ phối. Tùy theo bối cảnh lịch sử và nhu cầu, mục tiêu của mình mà các bên (trước hết là các quốc gia) quyết định lựa chọn một hay một số chính sách, biện pháp. Trên thực tế, hoạt động ngoại giao của bất kỳ nước nào cũng đều nhằm ba mục tiêu cơ bản là: - Góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thô quốc gia; 3http://www.vn/nhat-ban-thanh-lap-uy-ban-thuc-day-ngoai- giao-the-thao/243626.vnp - Tranh thủ và tạo những điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước; -_ Nâng cao vị thế, mở rộng ảnh hưởng trên trường quốc tế.
Ba mục tiêu này liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại, tạo ra một thể thống nhất để phát triển đất nước, trong đó sức mạnh kinh tế đóng vai trò cơ bản và quyết định. Kế từ sau Chiến tranh thế giới lần II, phạm vi, quy mô các hoạt động kinh tế nói chung, thương mại nói riêng trong quan hệ quốc tế đã tăng lên đáng kế. Tuy vậy, do sự đối đầu về ý thức hệ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, nên an ninh, chính trị vẫn yếu tố chủ đạo trong quan hệ quốc tế. Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực sụp đỗ, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra nhanh chóng, đã khiến kinh tế trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia.
Sức mạnh trong quan hệ quốc tế không còn được định đoạt chỉ bang sức mạnh quân sự, mà ngày càng được xác định băng sức mạnh kinh tế. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ phục vụ phát triển kinh tế của ngành ngoại giao đã được nâng lên, mở rộng, nhằm bám sát các nhu cầu hợp tác thương mại, đầu tư, lao động. Nhiều nhà Lãnh đạo cấp cao như Thủ tướng Nhật Bản, Tổng thống Philippines, Thủ tướng Malaysia, Tổng thống Hàn Quốc. tự xem mình là “những nhà tiếp thị của đất nước”.
Nhiều quốc gia nhận thức rõ rằng, các hoạt động đối ngoại và kinh tế có mối quan hệ gắn bó hữu cơ, kinh tế tạo sức mạnh cho đối ngoại. Đối ngoại là bệ phóng cho phát triển kinh tế. Chính vì vậy, các khái niệm NGKT (Economic Diplomacy), Ngoai giao Phat trién (Development Diplomacy). ngày càng trở nên phổ biến.
Nội hàm của NGKT 10 cũng rất đa dạng và phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế, trình độ phát triển, bộ máy tổ chức và từng giai đoạn phát triển khác nhau của một quốc gia. Chiến tranh lạnh kết thúc vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã mở ra thời kỳ mới, để các nước tập trung sức người, sức của cho phát triển kinh tế trong nước và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế (KTQT). Vào cuối những năm 1980, đầu 1990, một số nhà nghiên cứu nỗi tiếng như Paul Kennedy, Jeffrey Garten, Edward Luttwalk và Lester Thurow đã khẳng định, quan hệ quốc tế chắc chắn sẽ trở thành cuộc đối đầu của những khối kinh tế. Sức mạnh trong quan hệ quốc tế sẽ không còn được định đoạt bằng sức mạnh quân sự mà bằng sức mạnh kinh tế.
Ngoại trưởng Mỹ là Hillary Clinton đã phát biểu thăng thắn rằng, “sở dĩ Mỹ lãnh đạo thế giới vì Mỹ có sức mạnh kinh tế”, Chính vì thế, ngoại giao của nhiều nước đã chuyển mạnh mẽ theo hướng chú trọng vào kinh tế. Ngoại giao tham gia kinh tế đối ngoại (KTĐN) không,chỉ. ding |lai ở việc hoạch định chính sách, tạo môi trường. gia giải quyết những khúc mắc, khó khăn.
mà còn đi vào những vẫn đề cụ thể như xúc tiến thương mại, du lịch, đầu tư, thu hút viện trợ nước ngoài và môi giới những hợp đồng kinh tế lớn. Nhiều nước như Anh, Canada, Australia, Thuy Điển, Hà Lan, Hàn Quốc đã kết hợp chặt chẽ về tổ chức giữa ngoại giao và thương mại. Ở nhiều nước, ODA được đặt trong Bộ Ngoại giao. Philippines coi NGKT là một trong 2 trụ cột của chính sách đối ngoại.
Hội đồng KTĐN của Philippines đo Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Công thương làm đồng Chủ tịch. Brunei đặt yêu cầu ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế, đa dang hod cơ cấu nền 11 kinh tế, giảm phụ thuộc vào xuất dầu. Bộ trưởng Ngoại giao _Brunei làm Chủ tịch Hội đồng kinh tế. Tại Án Độ, Bộ Ngoại giao là cơ quan thường trực của Uỷ ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế với các nước.
Bộ Ngoại giao và cơ quan đại diện (CQDD) ngoại giao của nhiều nước đã tập trung thích đáng, có khi tới 60 — 70% thời gian và nguồn lực cho công tác kinh tế. NGKT đã trở nên quan trọng hơn. - Tuy nhiên, không phải đến gần đây mới có khái niệm NGKT. Nhìn vào lịch sử, NGKT không phải là khái niệm mới.
Kể từ thời phục hưng của Ý, NGKT đã trở thành một trong hai nhiệm vụ song hành của ngành ngoại giao, bên cạnh nhiệm vụ chính trị và an ninh. Trong suốt thế kỷ XIX, “Ngoại giao thương mại” đã được hầu hết các quốc gia công nghiệp châu Au sử dụng để thúc đẩy lợi ích kinh tế của quốc gia. Trong buổi điều trần trước Quốc hội Bỉ vào tháng 4/1935, Bộ Ngoại giao Bi đã mô tả sự thay đổi của công tác ngoại giao như sau: “Nhờ vào sự phát triển vượt bậc của báo chí và các cơ quan truyền. thông, hầu hết các CQDD ngoại giao tốn ít nguồn lực hơn cho nhiệm vụ báo cáo chính trị truyền thống, để tập trung vảo việc bảo vệ lợi ích kinh tế của đất nước”.
Một cuộc khảo sát vào năm 1998 đã chỉ ra rằng, hầu hết Bộ Ngoại giao của các nước trên thế giới đều có vai trò kinh tế quan trọng đối với đất nước. Một số tiểu bang, của Australia và Bỉ đã thay đổi tên của Bộ Ngoại giao thành “Bộ Ngoại giao và Ngoại thương”, hoặc “Bộ Ngoại thương và Ngoại giao”. NGKT kế từ đó đã trở thành một khái niệm được sử dụng rộng rãi. Kể từ đó nó đã được làm cho tiến bộ nhanh chóng trong thời hạn trở thành mối bận tâm chính trong chính sách đối ngoại.
12 NGKT ngày càng được giới học thuật và các viện nghiên cứu quan tâm. Ngay từ đầu những năm 1990, NGKT đã trở thành một môn học phổ biến đạy tại nhiều cơ sở giáo đục trên toàn thế giới. Ví dụ, các khóa học ở trình độ Thạc sĩ về NGKT tại Trường Kinh tế London, gồm các cơ sở lý luận và phân tích trong việc ra quyết định về chính sách NGKT. Trên thế giới, đã có một số sách viết về NGKT như cuốn “NƠKT mới: hoạch định chỉnh sách và thương lượng trong quan hệ quốc tế” của Nicholas Bayne và Stephen Woolcock; cuốn “NGKT, mộu dịch và chính sách thương mại: những mặt tích cực và tiêu cực trong trật tự thế giới mới” của Peter A G van Bergeijk hay cuốn “NGKT: góc nhìn kinh tẾ và chính trị” của Maaike Okano- Heijmans.Tuy nhiên, các tác phẩm này chỉ phân tích NGKT một cách tổng quát trên toàn thế giới, mà không tập trung vào chính sách của một quốc gia nào.
Trong số những tài liệu hiém hoi đề cập tới NGKT của Mỹ với một khu vực nhất định, có cuỗn “Ki cặp đôi gặp nhau: NGKT của Mỹ với châu A” cha M. Tuy nhiên, trong cuốn sách này, tác giả lại chỉ tập trung vào Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản, mà không đề cập nhiều tới khu vực Đông Nam Á. Rải rác trong các bài viết về chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Đông Nam Á, lĩnh vực kinh tế xuất hiện khá nhiều: Mặc đù vậy, các tác giả chỉ đừng lại ở việc mô tả chính sách của Mỹ về vấn để kinh tế với khu vực, chứ không phân tích chính sách NGKT của nước này. NGKT là một khái niệm tuy không mới, nhưng lại không có định nghĩa rõ ràng.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này, nhưng về cơ bản, có hai cách hiểu chính như sau: Thứ nhất, coi ngoại giao là phương tiện để đạt được mục tiêu kinh 13 tế, tức là dùng chính trị để làm kinh tế. Thứ hai, ngược lại, cho rằng NGKT là sử dụng kinh tế để gây ảnh hưởng về chính trị, fức là coi kinh tế là một phương tiện dé đạt được mục đích chính trị. Hiện nay, lại có một số quan điểm coi NGKT là sự tổng hợp của hai cách hiểu này. Nói cách khác, đó là hai mặt của một vấn đề.
Trong đó giữa kinh tế và chính trị có sự chuyển đổi linh hoạt, có khi yếu tố này là mục tiêu, yếu tế kia là phương tiện và ngược lại. Trong một hội thảo quốc tế về NGKT, các tác giả Raymond Saner va Lichia Yiu chi ra rang, khái niệm NGKT có tính linh hoạt rất cao. Theo đó, các quốc gia khác nhau, vào các thời điểm khác nhau có những cách định nghĩa không giống nhau'. Điều này khiến cho việc hiểu thuật ngữ này trở nên rất phức tạp.
Để làm rõ hơn nhận xét trên, có thể nêu ra một số khái niệm NGKT của các tác giả, hay trường phái khác nhau. - Trong cuốn NGKT của Nicholas Bayne và Stephen Woolcock (2007), các tác giả đưa ra khái nệm “NGŒKT là quá trình hoạch định các chính sách liên quan đến các vấn đề KTOT”. Gi Kappon (2003) thì cho rằng, “NGKT là lĩnh vực đặc biệt của hoạt động ngoại giao, liên quan đến việc sử dụng kinh tế như là đối tượng và phương tiện để cạnh tranh và hợp tác trong quan hệ quốc tế”. Ghi Karon De La Karen viết: “NGKT là đạt mục đích kinh tế bằng phương pháp ngoại giao, không phụ thuộc vào việc ngoại giao có sử dụng những đòn bẩy kinh #R.
Yiu(2009), International Economic Diplomacy: Mutations in Post-modern Times, Discussion Papers in Diplomacy, Netherlands Institute of International Relations “ Clingendael” , s.3 14 té dé đạt được mục tiêu hay không”.