Chương 1. Bài toán phủ hình nhỏ hơn cạnh của tam giác đều đã cho. Như vậy, ta cần đến ba tam giác. Nếu tam giác không đều, thì ta có thể phủ bằng hai tam giác đồng dạng.
Thật vậy, cho AB > BC, ta dựng B′ tam giác A0 B0C0 đồng dạng với C C′ tam giác ABC sao cho BC nằm trên cạnh A0 B0 = kAB > BC, k < 1 (Hình 1. Tam giác A0 B0C0 sẽ A B ′′ B phủ một tứ giác nhỏ nào đó,ví C ′′ A′ như B00 BCC0. Ta có thể phủ phần còn lại của tam giác ABC bằng Hình 1.12 một tam giác vị tự với tam giác ABC có tâm vị tự tại A. BÀI TOÁN PHỦ MỘT ĐOẠN THẲNG Ta xét một đoạn thẳng A có độ dài bằng 1 được phủ bởi một số đoạn thẳng, nghĩa là mỗi điểm của đoạn thẳng đã cho nằm trong ít nhất một đoạn thẳng phủ nó.
Cho ε > 0 là một số. Bài toán đặt ra là từ một phủ bất kỳ của đoạn thẳng đơn vị, có tồn tại hay không một số đoạn thẳng (trong những đoạn thẳng phủ) mà mọi cặp đoạn thẳng của chúng đều không có điểm chung, nhưng tổng độ dài của chúng nhỏ hơn ε > 0 hoặc lớn hơn ε > 0? Trong bài toán này, số 1 ε0 = giữ vai trò quan trọng. Cụ thể, với mọi ε < ε0 sẽ có khả năng 2 chọn được một số những đoạn thẳng phủ có tổng độ dài lớn hơn ε. Trong khi đó, với ε > ε0 thì không có khả năng đó.
Cụ thể, ta có định lý sau: Định lý 1. Cho tập hợp M những đoạn thẳng phủ đoạn thẳng A với độ dài bằng 1. Bài toán phủ một đoạn thẳng 19 a) Tồn tại một tập hợp con O ⊂ M gồm những đoạn thẳng không 1 giao nhau, tổng những độ dài của chúng không nhỏ hơn. 2 1 b) Nếu ε > thì ta có thể tìm được tập hợp M những đoạn thẳng 2 có tính chất sau: Tổng những độ dài của những đoạn thẳng không giao nhau thuộc M nhỏ hơn ε.
Cho tập M những đoạn thẳng phủ đoạn thẳng AB. Nếu một đoạn thẳng bị phủ toàn bộ bởi một hoặc vài đoạn thẳng, thì ta bỏ đoạn thẳng này đi và những đoạn thẳng còn lại vẫn phủ AB. Ta đánh số những đoạn thẳng còn lại theo một cách đặc biệt: Ta xét tất cả những đoạn thẳng phủ điểm A. Trong những đoạn vừa chọn, ta chọn đoạn thẳng có điểm đầu bên phải nằm về phía bên phải nhất trên đoạn AB.
Dễ thấy rằng nếu ta bỏ đi tất cả những đoạn khác phủ A ngoài đoạn thẳng ta vừa chọn ở trên, thì ta vẫn còn một phủ đoạn AB. Đoạn thẳng được chọn như vậy phủ A, ta gọi là đoạn thẳng thứ nhất. Sau đó, ta xét tất cả những đoạn thẳng phủ điểm cuối bên phải B1 của đoạn thẳng thứ nhất A1 B1. Bây giờ, ta xét hai đoạn thẳng CD và EF như vậy mà không có đoạn nào chứa hẳn một đoạn nào.
Nếu điểm F nằm ở bên phải của D, thì đoạn thẳng A1 B1 và EF phủ CD và có thể bỏ đi CD (Hình 1.13 Nếu điểm F nằm ở bên trái D thì bằng lý luận như vậy, ta có thể bỏ EF (Hình 1. Bài toán phủ hình A1 A C E B1 F D B Hình 1.14 Bằng cách tiếp tục quá trình này, ta tách được một đoạn thẳng A2 B2 phủ B1. Đoạn thẳng vừa tách được đó gọi là đoạn thẳng thứ hai. Sau đó, ta xét tất cả các đoạn thẳng phủ B2 và cũng tách được một đoạn thẳng và gọi là đoạn thẳng thứ ba và.
Sau khi ta đánh số như trên, dễ thấy mọi cặp đoạn thẳng có số thứ tự đồng thời chẵn hoặc đồng thời lẻ sẽ không có điểm chung.15 Thật vậy, giả sử đoạn thứ nhất và đoạn thứ ba có điểm chung, thì đoạn thứ hai và đoạn thứ ba phủ B1. Điều này không có khả năng xảy ra theo cách dựng của chúng ta. Bởi vì tổng các độ dài của những đoạn thẳng phủ AB không nhỏ hơn 1, thì tổng các độ dài của các đoạn thẳng có nhãn chẵn hoặc tổng các độ dài có nhãn lẻ không 1 nhỏ hơn. Như vậy a) đã được chứng minh.
2 1 Chứng minh b): Cho ε >. Ta xét hai đoạn thẳng A1 B1 và A2 B2 2 giao nhau và phủ AB (Hình 1. Nếu chúng có độ dài bằng nhau 1 1 A1 B1 = A2 B2 = + δ > < ε, chúng sẽ tạo ra tập hợp M phải tìm. Bài toán phủ một hình vuông 21 1.
BÀI TOÁN PHỦ MỘT HÌNH VUÔNG 1 Tiết trước, ta thấy ε0 = có một ý nghĩa rất đặc biệt. Bài toán 2 tương tự cho một phủ những hình vuông trên hình vuông có cạnh bằng 1. Bài toán này lần đầu tiên đã được Rado, một nhà toán học Hungari, nghiên cứu. Bài toán Rado có liên quan đến tìm số ε0 với tính chất sau: a) Với mọi 0 < ε < ε0 , từ mỗi tập hợp hình vuông con phủ hình vuông đã cho có cạnh bằng 1, có thể chọn được tập hợp con những hình vuông không giao nhau mà tổng diện tích của chúng lớn hơn ε; b) Với mọi ε > ε0 , tồn tại một tập hợp hình vuông, phủ hình vuông có cạnh bằng 1, sao cho tổng diện tích của những hình vuông tùy ý không giao nhau đều nhỏ hơn ε.
Để dễ tưởng tượng, ta cho hình vuông là cái mặt bàn hình vuông có cạnh bằng 1, ta muốn phủ mặt bàn bằng những khăn trải bàn hình vuông. Theo ngôn ngữ khăn trải bàn như vậy, ta có một kết luận cho số ε0 như sau: Định lý 1. Cho một mặt bàn hình vuông có cạnh bằng 1, được phủ bởi những khăn trải bàn hình vuông. Khi đó, tồn tại một tập hợp con những khăn trải bàn không đè lên nhau sao cho tổng diện tích của 1 chúng không nhỏ hơn.
Ta chọn trong những khăn trải bàn phủ bàn đã cho một chiếc khăn có cạnh lớn nhất a1 và ta kí hiệu là K1. Ta xét tất cả những khăn trải bàn còn lại có giao với K1. Hiển nhiên, chúng phải nằm trong hình vuông có cạnh 3a1 mà nó chứa K1 (Hình 1. Ta quan tâm tới diện tích phần mặt bàn chưa được phủ bởi K1 , nhưng được phủ bởi những khăn giao với K1.
Bài toán phủ hình Phần phủ này có diện tích không lớn hơn diện tích của tám hình vuông có cạnh a1 , nghĩa là diện tích này không lớn hơn 8a21. Ta bỏ những khăn trải bàn có giao với K1 và xét những khăn còn lại trừ K1. Từ trong tập hợp này, ta tách ra một khăn có cạnh lớn nhất K1 a2 và kí hiệu nó là K2. Sau đó, ta lại bỏ đi những khăn có giao với K2.
Diện tích của những phần ta vừa bỏ đi cũng không lớn hơn 8a22 .16 cách tiếp tục phương pháp này, ta sẽ nhận được một tập hợp những khăn không giao nhau K1 , K2 ,. Diện tích của phần bàn không được phủ bởi những khăn vừa chọn ở trên không lớn hơn tám lần tổng diện tích của những hình vuông K1 , K2 , ., Kp , điều này chỉ ra rằng tổng diện tích của những 1 khăn K1 , K2 , ., Kp không nhỏ hơn. Như vậy, định lý được chứng 9 minh và số ε0 tìm được từ bất đẳng thức ≤ ε0. 1 9 J 1 Ta giả thiết rằng ε >.
Khi đó, 4 K4 K3 ta luôn luôn có thể tìm được một phủ mặt bàn bằng bốn khăn vuông mà hai cái khăn tùy ý đều không K1 K2 có điểm chung và diện tích của mỗi 1 chiếc khăn bằng số S thỏa mãn < 4 S < ε.17 mô tả vị trí của Hình 1.17 bốn chiếc khăn này. Như vậy, ta đã chứng minh nếu tồn tại số ε0 có tính chất a) và 1. Định lý Bloosphelt 23 1 1 b), thì sẽ có bất đẳng thức ≤ ε0 ≤. 9 4 1 Rado đã đưa giả thuyết là có thể chọn ε0 =.
Sau đó nhà toán học 4 Hungari, M. Aitai xây dựng được một ví dụ: Một chiếc bàn có thể phủ những khăn hình vuông, mà mỗi tập hợp những khăn vuông 1 không giao nhau đều có tổng diện tích nhỏ hơn thực sự. Thực 4 chất, vị dụ của Aitai đã chỉ ra trong tập hợp khăn phủ mặt bàn có hai loại khăn hình vuông khác nhau. Cho đến nay, kết quả tốt nhất 1 1 đối với ε0 được cho bằng bất đẳng thức < ε0 <.
ĐỊNH LÍ BLOOSPHELT Để tiếp tục ý tưởng của tiết trước, ta phải dùng đến một định lý rất nổi tiếng về tọa độ nguyên của một hình nằm trên lưới nguyên. Cụ thể về vấn đề lưới và tọa độ lưới được xem xét ở chương 4. Phần này, ta xét định lý chứng minh bằng phương pháp Dirichlet. Nếu một hình A trong mặt phẳng thỏa mãn điều kiện diện tích của nó lớn hơn thực sự 1, kí hiệu là S(A) > 1, thì nó chứa ít nhất hai điểm trong khác nhau (x1 , y1 ), (x2 , y2 ) mà những hiệu của chúng x2 − x1 và y2 − y1 là những số nguyên.
Qua mỗi điểm (m, n) có tọa độ nguyên, ta kẻ một đường thẳng song song với trục hoành và một đường thẳng song song với trục tung. Như vậy, ta nhận được một hệ những đường thẳng gọi là một lưới nguyên, những điểm có tọa độ nguyên gọi là các đỉnh của lưới nguyên. Bài toán phủ hình Lưới nguyên chia mặt phẳng thành những ô vuông bằng nhau và mỗi ô có diện tích bằng 1 (Hình 1.19 Nếu ta đặt một hình vuông bất kỳ nào đó tịnh tiến đến trùng một hình vuông khác trong lưới nguyên này, thì hiệu giữa những tọa độ tương ứng của điểm nào đó và ảnh của nó hiển nhiên sẽ là một số nguyên. Bây giờ, ta chọn một trong những ô vuông trong lưới vuông làm cơ sở và tịnh tiến mọi hình vuông của lưới về hình vuông cơ sở (mỗi hình vuông chỉ tồn tại duy nhất một phép tịnh tiến như vậy).
Khi đó, những phần của diện tích hình A nằm trong những hình vuông khác nhau sẽ được chuyển vào hình vuông cơ sở sau những phép tịnh tiến này (Hình 1. Nhưng tổng diện tích của chúng bằng diện tích hình A và suy ra diện tích này lớn hơn 1 (diện tích của hình vuông cơ sở). Theo nguyên lý Dirichlet về diện tích suy ra ít nhất hai trong số những ảnh đưa tới ô vuông cơ sở có một điểm trong chung (x0 , y0 ).