Chương 1: Khái quát về marketing dịch vụ 23 khách hàng sẽ có cảm nhận tích cực về chất lượng địch vụ. Đáng tiếc là các quá trình vận hành của các thiết bị viễn thông hiện đại lại xảy ra ở các phòng kín, xa cách với khách hàng. Vậy chúng ta có phương pháp gì để cho khách hàng quan sát các quá trình đó được không? 1. Phân loại theo mức độ biến đổi của dịch vụ Có hai biến số tham gia vào sự biến đổi của dịch vụ.
Đó là: - Kha nang bao dam tính đồng nhất của quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả dịch vụ (biến số X). | - Kha nang đáp ứng nhu cầu cá nhân của khách hang (biến số Y). Biên số Y „ _ Thấp Cao Biên số X Chiếu phim Dịch vụ viễn thông Cao Thức ăn nhanh Khách sạn Tàu tốc hành Cơ sở du lịch Đá bóng Giải phẫu Thấp Huấn luyện Taxi Dao tao Dịch vụ thẩm mỹ Hình 1.8: Phân loại theo mức độ biến đổi Căn cứ vào 02 biến số này ra có thể chia dịch vụ thành 04 loại tương ứng với 04 6 của ma tran trong Hinh 1. trục hoành (biến số Y) mô tả "Khả năng đáp ứng dịch vụ theo nhu cầu cá nhân của khách hàng”.
Trục tung (biến số X) mô tả "Khả năng đảm bảo tính đồng nhất của quá trình cung cấp và kết quả dịch vụ”. Đối với những loại dịch vụ sử dụng nhiều lao động cung cấp dịch vụ thì tính đồng nhất của quá trình dịch vụ khó được đảm bảo, Để hạn chế nhược điểm này, nhà cung cấp dịch vụ có thể tăng cường sử dụng máy móc, thiết bị thay thế người cung cấp. Đó là máy điện thoại dùng thẻ, máy rút tiền tự động ATM, máy bán tem, bán báo tự động, máy chấp nhận bưu phẩm tự động, hệ thống trả lời tự động thay cho điện 24 Giáo trình Marketing dịch vụ thoạt viên, máy chia thư tự động. Tuy nhiên “người cung cấp dịch vụ là máy móc” lại có mặt nhược điểm khác của nó vì nó không có tâm hồn, cảm xúc, không nhận biết được ai là khách hàng quen.
Khả năng đáp ứng dịch vụ theo nhu cầu cá nhân của khách hàng phụ thuộc vào phương pháp sản xuất tạo ra dịch vụ. Các phương pháp sản xuất có tính cấu trúc cao thường khó đáp ứng nhu cầu cá nhân (vận chuyển hàng không, tàu cao tốc theo hành trình. Đối với các dịch vụ có cấu trúc thấp có thể tăng tính linh hoạt bằng các biện pháp phân cấp, giao quyền tự chủ nhiều hơn cho những người trực tiếp cung cấp địch vụ cho khách hàng. Làm như vậy có thể đấp ứng nhu cầu da dang của khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh.
Phân loại theo cách thức cung cấp dịch vụ Ở đây ta dùng 02 chỉ tiêu sau để phân loại dịch vụ: - Dịch vụ được cung cấp liên tục hay rời rạc; - Dịch vụ được cung cấp ngẫu nhiên hay trên cơ sở quan hệ bạn hàng lâu dài. Như vậy, ta có thể chia dịch vụ ra làm 04 nhóm theo ma trận như sau: Khách | - Bưuphẩm ghi nợ - Bảo hiểm hàng - Ô tô buỷt vé thăng - Thuê bao điện thoại quen - Hợp đồng bảo dưỡng máy tính - Thuê bao TV MMDS - Taxi - Dịch vụ công cộng (đường xá, cầu, Mua - Điện thoại tại ghi-sẽ công viên. ga ~ Hang an nhanh - Phat thanh nhién R - Gui thu Rời rac Lién tuc Hinh 1.9: Phan loại theo cách thức cung cấp dich vw Nhà cung cấp nào cũng muốn có nhiều khách hàng quen, mua thường xuyên, liên tục. Nếu làm được như vậy sẽ dảm bag @panh thu Chương l : Khái quát về marketing dich vu 25 ổn định cho doanh nghiệp.
Nhiều biện pháp được các doanh nghiệp dịch vụ sử dụng để duy trì các nhóm khách hàng quen, khách hàng trung thành. Làm được như vậy doanh nghiệp sẽ không còn lo lắng bởi canh tranh. Phân loại theo mức độ sử dụng lao động cung cấp dịch vụ Có các dịch vụ cần nhiều lao động cung cấp dịch vụ như ca nhạc, bưu chính, y tế, giáo dục. Ngược lại, có các dịch vụ có thể dùng máy móc thiết bị để cung cấp dịch vụ cho khách hàng như bán vé tự động, soát vé tự động, rút tiền tự động, điện thoại thẻ.
Các dịch vụ bưu chính sử dụng nhiều nhân lực, trong khi đó các dịch vụ viễn thông sử dụng nhiều thiết bị. Quan lý hai loại địch vụ này đồi hỏi các cách tiếp cận khác nhau vì đôi tượng quản lý khác nhau. Đối với con người cách quản lý khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản lý máy móc. Phân loại theo ý nghĩa của dịch vụ đối với người mua Có những dịch vụ được tiêu dùng thường xuyên, nhanh chóng, thường là có giá trị thấp, Người tiêu dùng hầu như không cân nhắc khi mua.
Chẳng hạn dịch vụ ô tô buýt công cộng, dịch vụ điện thoại thẻ, Loại dịch vụ này tương ứng với hàng hóa tiêu thu nhanh (fast-moving consumer good). Mặt khác, có các địch vụ mua không thường xuyên, có giá trị. Do vậy, quá trình mua kéo dài và được cân nhắc cẩn thận (đi du lịch nước ngoài, đăng ký một đường kênh Internet thuê riêng. KHAC BIET GIUA MARKETING HANG HOA VA MARKETING DICH VU Marketing cho các ngành dịch vụ được phát triển trên cơ sở thừa kế những kết quả của Marketing hàng hóa.
Tuy nhiên hệ thống Marketing Mix cho hàng hóa tỏ ra không phù hợp hoàn toàn với những đặc điểm của dịch vụ. Do vậy, hệ thống Marketing - Mix 4P cần phải được thay đổi nội dung cho phù hợp với các đặc thù của dịch vụ. 26 Giáo trình Marketing dịch vụ Ngoài ra, còn phải bổ sung thêm 03 thành tố, 3P nữa để tạo thành Marketing Mix 7P cho Marketing dịch vụ. Con người (People) Đối với hầu hết các ngành dịch vụ thì con người là yếu tố quyết định.
đặc biệt là những nhân viên tuyến đầu, hàng ngày hàng giờ tiếp xúc trực tiếp với khách. Họ vừa là người khai thác tham gia vào quá trình tạo ra dịch vụ; vừa là người bán hàng. Hành vị, cử chỉ, lời nói, trang phục của họ. đều ảnh hưởng lớn đến tâm lý khách hàng.
Kiến thức, kỹ năng, thái độ của họ ảnh hướng đến chất lượng dịch vụ. Do vậy, yếu tố con người, quản lý con người phải chú trọng đặc biệt. Con người ở đây còn là phía khách hàng tiếp nhận dịch vụ. Sự tham gia của khách hàng vào quá trình cung cấp dịch vụ, mối quan hệ giữa khách hàng với nhau cũng dược quan tâm trong Marketing dịch vụ, 1.
Sử dụng các yêu tố hữu hình (Physical Evidence) Do dịch vụ có nhược điểm lớn là vô hình, cho nên cần phải chú trọng tới các yếu tố hữu hình thay thế nhằm tác động tích cực tới tâm lý khách hàng. Đó là các yếu tố hữu hình tại nơi giao dịch, các sản phẩm kèm theo, con người, thiết bị, phương tiện, quảng cáo bằng hình ảnh. Qua trinh (Process) Đối với các ngành dịch vụ, quá trình cung cấp va tiêu thụ dich vu xay ra đồng thời, khách hàng tham gia vào quá trình tạo ra dịch vụ. Khách hàng không chỉ quan tâm đến kết quả của dịch vụ, mà còn quan tâm đến quá trình cung cấp dịch vụ.
Quá trình này tác động mạnh tới tâm lý, cảm nhận của khách hàng. Đồng thời, ở đây có sự giao thoa giữa Quản trị Marketing, Quản trị tác nghiệp và Quản trị nguồn nhân lực. Như vậy, Marketing mix đối với các ngành dịch vụ bao gồm 7P như sau: - PL: Sản phẩm - P2: Giá cả Chương È: Khái quát về marketing dịch vụ 27 - P3: Phân phối - P4: Xúc tiến yếm trợ - P5: Quản lý con người cung cấp dịch vụ - P6: Sử dụng các yếu tố hữu hình - P7; Quản lý quá trình cung cấp dịch vụ Cần lưu ý rằng, không phải 3P cuối cùng hoàn toàn không cớ vai trò gì đối với Marketing hàng hóa. Vấn dé là đối với Marketing dich vụ, nó có vai trò đặc biệt quan trọng, Những vấn để nêu trên được nghiên cứu trong các chương sau.
XU HƯỚNG KINH DOANH DỊCH VỤ 1. Xu hướng phái triển của dịch vụ Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thế giới, dịch vụ cũng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dan của các nước, đặc biệt là các nước phát triển. Dịch vụ đã trở thành ngành sản xuất lớn nhất của thê giới hiện nay. Lao động trong ngành dịch vụ chiếm từ 60% đến 75% tổng số lao động ở nhiều nước phát triển.
Khi sản xuất xã hội phát triển sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự xâm nhập lẫn nhau giữa lĩnh vực kinh doanh hàng hóa và dịch vụ. Cᜠcông ty bán hàng hóa sử dụng các dịch vụ bổ sung thêm như một vũ khí cạnh tranh. Các nhà cung cấp dịch vu lại tích cực sử dụng các hàng hóa kèm theo hỗ trợ cho quá trình cung cấp dịch vụ. Nước Ô-xtrây-li-a có số lao động trong các ngành dịch vụ chiếm tới 75% tổng số lao động cả nước, mang lại 50% GDP.
Ngành dịch vụ du lịch là ngành kinh tế số một của Ô-xtrây-li-a. Người ta ước tính khoảng từ 30% đến 50% chi phí của hộ gia đình là chỉ tiêu dành cho mua dịch vụ. Các nhà sản xuất lớn thường mở rộng phạm vi hoạt động để tăng thêm doanh thu thông qua việc tăng cường phái triển lính vực dịch vụ ngoài lĩnh vực sản xuất chính. Hoạt động dịch vụ mang lại cho công ty Thang máy Otis hơn 50% tổng thu nhập.
Dịch vụ tài chính của công ty General Motor chiếm tới hơn 41% tổng doanh thu. Hãng thiết bị Digital c6 hon 30% thu nhập thu được từ các dịch vụ bảo hành, sua chữa máy tính. 28 Giáo trình Marketing dịch vụ Tại Việt Nam, lĩnh vực dịch vụ cũng đang phát triển nhanh chóng cùng với chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Nhà nước trong giai đoạn đổi mới. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP sẽ ngày càng tăng.
Vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế quốc gia. Trong gần 20 năm đổi mới phát triển nên kinh tế thị trường ở Việt Nam đã tao nên sự chuyển dịch kinh tế hết sức sâu sắc của kinh tế dịch vụ. Thu nhập quốc dân từ ngành địch vụ đã tăng từ 10% (năm 1985) lên 30% (năm 2005) trong tổng thu nhập quốc dân. Nghị quyết Đại hội X Đẳng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2001 đến 2010 đã chỉ rõ : TỶ trọng GDP của nông nghiệp ló-l7%, công nghiệp 40-41%, dịch vụ 42-43%.