Chương 7 CÁC TỎ CHÚC TÀI CHÍNH TRUNG GIAN Mô tả nội dung chính. Nền kinh tế lành mạnh và phát triển đòi hỏi một hệ thẳng tài chính hoạt động có hiệu quả đẻ luân chuyển vốn từ những người tiết kiệm tới những người có cơ hội đầu tư vào sản xuất. Chương này sẽ phân tích về cách thiết kể một cơ cấu tài chính sao cho thúc đây được hiệu quả của nên kinh tế. Phân tích của chúng ta sẽ giúp cho việc lý giải các thuộc tính của hệ thống tài chính hiển nay như tại sao các trung gian tài chính lại quan trọng hơn thị trường chứng khoán trong việc chuyển vốn cho người đi vay? Phân tích của chúng ta cũng minh chứng cho mối quan hệ quan trọng giữa hệ thống tài chính và kết quả hoạt động tổng hợp của nền kinh tế.
Phần còn lại chúng ta hãy cùng tìm hiểu về các loại hình tổ chức tài chính trung gian, chức năng, vai trò, đặc điểm và cách thức tổ chức hoạt động của chúng. Mục đích nghiên cứu Sau khi học xong chương này, học viên cần trả lời và giải thích được các vấn để cơ bản như sau: - Tai sao tài chính gián tiếp lại đóng vai trò quan trọng hơn tài chính trực tiếp trong việc chuyển vốn đến người đi vay? = Phân biệt sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. - Phân tích vấn đề rủi ro đạo đức trong hợp đồng nợ và hợp đồng vốn cỗ phần. ~ Phân tích các chức năng cơ bản của các trung gian tài chính.
- Các trung gian tài chính có vai trò như thế nào trong sự phất triển của nền kinh tế xã hội? ~ Mồ tả và phân tích hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng. ~ Mô tả và phân tích hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian là ngân hàng. ~ §o sánh sự khác nhau cơ bản về vai trò và hoạt động giữa các ngăn hàng và các tổ chức tải chính trung gian phi ngân hàng.1, PHÂN TÍCH KINH TẾ VỀ CÁU TRÚC TÀI CHÍNH 7. Những vẫn đề cơ bản về cấu trúc tài chính Các tổ chức tài chính là một hệ thông phức tạp, đa dạng về cấu trúc và chức năng.
Có nhiều loại hình khác nhau trong các tổ chức tài chính như: ngân hàng thương mại. ngân hàng đầu tư, công ty tài chính, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, các quỹ tương trợ. được gọi chung là các ngân hàng và các tổ chức tải chính phi ngân hang. Đồng thời cũng có nhiễu loại hình của thị trường tài chính như: thị trường cổ phiêu, thị trường trái phiếu, thị trường của các công cụ tài chính phái sinh.
Tất cả những tổ chức tài chính và thị trường tài chính hằng năm. đã dịch chuyển một khối lượng vốn khổng lỗ từ những người tiết kiêm tới những người có cơ hội đầu tư. Lấy ví dụ về hoạt động tài trợ vốn cúa các công ty. Các công ty có thể huy động nguồn vốn qua việc bán chứng khoán (cổ phiểu, trái phiểu) trên thi trường hoặc họ có thể vay vốn từ một trung gian tài chính như ngân hàng.
thương mại. Câu hỏi đặt ra là trong các nguồn tải trợ của công ty, nguồn tài trợ nào chiếm tỷ trọng lớn nhất? Biểu đỗ hình quạt trong hình đưới đây chỉ ra các phương thức tài trợ bằng nguồn vấn bên ngoài của các đoanh nghiệp Mỹ cho hoạt động của họ trong thời kỳ 1970 - 1996. Phương thức tài trợ vốn của các doanh nghiệp Mỹ 1970 - 1976 Nhìn vào kết quả được phản ánh trong biểu đồ này và tiếp tục đi sâu nghiên cứu và phân tích cấu trúc tài chính, những công cụ và phương tiện tài chính, chúng ta có thể rút ra những vẫn đề cơ bản về cảu trúc tài chính như sau: Thứ nhất, Trong số các công cụ và hình thức tạo vốn của đoanh nghiệp, từ các tổ chức tài chính trung gian và thị trường tài chính, thì cổ 197 phiểu và trái phiếu không phái là nguồn tài chính quan trọng nhất. Việc phát hành những chứng khoán có thể mua bán trên thị trường không phải là biện pháp hàng đâu để tài trợ cho các doanh nghiệp.
Kết luận về vấn đề này có vẻ như không thống nhất với những gì đang xảy ra trên điển đàn báo chí ở một số nước đã và đang dành nhiễu sự chú ý tới thị trường cổ phiếu và trái phiếu. Quả thật vậy, trong môi trường kinh tế mà sự phát triển của thị trường chứng khoán như vũ bão, nhiều người trong. số chúng ta có cảm nghĩ là cổ phiếu và trái phiểu mới là những nguồn tài chính quan trọng hàng đầu tài trợ cho các doanh nghiệp. Song với những số liệu thống kê như chúng ta đã thấy, ở Mỹ thị trường cổ phiếu chí chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn tài trợ cho các doanh nghiệp (9,2%), trái phiếu (35,5%).
Như vậy, tổng cộng số cổ phiếu và trái phiếu ở Mỹ (44,7%) cũng cung cấp chưa được một nửa số vốn bên ngoài mà các doanh nghiệp cần để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của họ. Điều này cũng đúng với hầu hết các nước phát triển khác trên thế giới như Anh, Pháp, Đức, Nhật. Vậy vì sao những chửng khoán mua bán được (cổ phiếu, trái phiếu) không được sử dụng một cách rộng rãi hơn để tài trợ cho các doanh nghiệp? Câu trả lời sẽ được nghiên cửu trong phí giao dịch với cấu trúc tài chính và những ưu thế của các trung gia tài chính trong việc tài trợ cho đoanh nghiệp. Thử hai, tài chính gián tiếp, tài chính có liên quan đến hoạt động của các trung gian tài chính, quan trọng gắp nhiều lần so với tài chỉnh trực tiếp, là con đường tài chính trong đó các doanh nghiệp gom vồn trực tiếp từ thị trường chứng khoán.
Như đã trình bày ở vấn đề thứ nhất, cổ phiếu và trái phiếu không phải là nguồn vốn quan trọng nhất, nó chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng các nguồn vốn tài trợ cho doanh nghiệp. Đồng thời các cổ phiếu và trái phiếu này được bán trực tiếp cho các tổ chức và cá nhãn lại càng ít hơn. Hầu hết cỗ phiếu, trái phiếu đã được các trung gian tài chính mua lại. Trong số các nguồn vốn của tài chính gián tiếp, thì các khoản vay từ ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò quan trọng nhất trong việc tài trợ cho các doanh nghiệp.
Vậy vì sao những trung gian tài chính và tài chính gián tiếp lại quan trọng đến thế trong cấu trúc của hệ thống tài chính và vì sao ngân hàng lại giữ vị trí trung tâm trong trung gian tài chính? Nghiên cứu các loại hình tài chính trung gian và hoạt động của ngân hàng sẽ trả lời những câu hỏi đó. 198 Thứ ba, hệ thống tài chính là bộ phận trọng yếu của nên kinh tế quốc dân, các nghiên cứu cho thấy không chỉ ở Mỹ mà ở tất cả các nước phát triển khác hệ thống tài chính đêu chịu sự điều hành và kiểm soát một cách chat chẽ. Như đã nghiên cứu trong Chương 2 vẻ hệ thống tài chính, đó là tổng hợp các quan hệ lài chính hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng có mối quan hệ thống nhất, hữu cơ với nhau. Xét vẻ cấu trúc và sự vận động.
của hệ thống tài chính, ta thấy hệ thống tài chính hao gồm các tụ điểm và các dòng tài chính. Sự chuyển hoá không ngừng giữa các dồng tài chinh vào các tụ điểm vốn và ngược lại, được thực hiện thông qua những trung gian tài chính và thị trường tài chính. Như vậy, trung gian tài chính và thị trường tài chính là những mạch máu chính của nền kinh tế quốc dan, đồi hỏi chính phủ phải quan lý và kiểm soát chặt chế mọi hoạt động của hệ thống tài chính để bảo đảm sự lưu thông thông suốt các nguồn vốn và bảo đảm sự lành mạnh, ổn định của nền kinh tế. Thứ tư, vật thể chấp là đặc trưng của các hợp đồng vay nợ.
đồng vay nợ nhìn chung đều là những văn bản pháp lý cực kỳ phức tạp trong quan hệ giao địch với khách hàng. Ở tắt cả các nước, trái phiểu hoặc hợp đông cho vay đều là văn bản pháp lý đài bao gồm nhiễu điêu khoản cam người đi vay tham gia vào một số hoạt động. Trong các điều khoán cho vay. của tín dụng ngân hàng như cho vay có mục đích, có vật tương đương làm bao dam (vat thé chip), hoàn trả đúng hạn cả vốn và lãi thì cho vay có vật thể chấp là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất.
Vật thế chấp là vật sở hữu được thé cho người cho vay, nếu người đi vay không thể thanh toán tiển nợ. Vật thế chấp trong các hợp đỏng vay nợ đòi hỏi người đi vay phải có bảo đám đẩy đủ giấy tờ hợp pháp xác nhận vật thế chấp dành riêng cho. từng mồn vay, tránh tình trạng vật thể chấp được dùng cho nhiều món vay. dẫn tới tình trạng đô vỡ tín dụng.
Chính vì vậy, trong các hợp đồng tín dụng, những điều khoản này luôn được quy định ngặt nghèo, chặt chẽ. Đa số khoản nợ của các hộ gia đình ở Mỹ là những khoản cho vay thé chấp. Các khoản vay cằm cổ trong thương mại và nông nghiệp mà trong đó tài sản được bàn giao làm vật thế chấp chiếm tới một phẩn tư mức vay nợ của các doanh nghiệp phi tài chính, Trái phiếu công ty và các khoản tín dụng ngân hàng khác cũng thường liên quan đến việc bàn giao vật thé chap. 199 Đo đó, vấn để cần được giải đáp là tại sao vật thế chấp lại là đặc tính quan trọng đến vậy trong các hợp đồng vay nợ.
Phí giao dịch và cấu trúc tài chính Người có vốn mong muốn tìm được người cần vốn để cho vay kiểm. lời, đồng thời người cần vốn muốn tiếp xúc với người có vốn đều phải tốn kém những khoản chỉ phí nhất định được gọi là chỉ phí giao dịch. Bởi vì những người đó không thể gửi tiền hay vay vốn ở những nơi không quen biết hoặc chưa đủ niềm tin mà không cần luật sư, người trung gian môi giới hoặc những người làm chứng khác. Giả sử bạn có một khoán tiền là 100 triệu.
Bạn muốn đầu tư và nghĩ tới việc đầu tư vào thị trường chứng khoán. Do chỉ có 100 triệu nên bạn chí mua được một ít cổ phiếu và phải trả lệ phí môi giới khá cao. Đó là do quy mô đầu tư của bạn quá nhỏ và lệ phí môi giới sẽ chiếm tỷ lệ phần trăm lớn trong giá mua. Như vậy, với chí phí giao dịch cao, bạn không thể sử dụng và đầu tư có hiệu quả trên khoản tiển tiết kiệm của mình.