luật địa phương đều có chức năng chính là đáp ứng nhu cầu tư vấn pháp lí của dân địa phương, gồm cả các cá nhân công dân và các doanh nghiệp ở địa phương. Vì vậy, hầu hết các công ti luật địa phương đều cung cấp dịch vụ trên các lĩnh vực luật gia đình, chứng thực chúc thư, quản lí di sản của người chết, luật hình sự, luật dân sự (như thu nợ và bồi thường thương tật cá nhân), các giao dich tài sản và một số Ít các vụ việc có liên quan tới luật kinh doanh (thường do các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương yêu cầu). Hành nghề luật sư tư vấn trong các công tỉ luật lớn ở thành thị thường được tiến hành theo hình thức những công ti luật có tới hang trăm luật sư thành viên. Ngày nay có những công ti luật của Anh đã sáp nhập với các công ti luật nước ngoài lập nên công ti luật quốc tế nhăm cung cấp dich vụ pháp lí toàn cầu và đánh bại các công ti địch thủ.
Những cuộc sáp nhập giữa các công ti luật nay thường diễn ra giữa các công ti luật của Anh và Mỹ hoặc giữa các công ti luật của Anh và các công ti luật ở châu Âu. Vai trò tư vấn của các luật sư tư vấn thành viên của các công ti luật lớn ở thành thị thường tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu hiéu biết về pháp luật có liên quan trong quá trình kinh doanh của khách hàng. Vì vậy, loại công tỉ luật lớn ở thành thị thường chuyên sâu về luật công ti, luật thương mại, luật thuế, luật ngân hàng, luật lao động, và các vụ kiện tụng dân sự. Theo truyền thống, quyền tham dự phiên toà của các luật sư tư vấn rất hạn hẹp.
Họ chỉ có thể tham dự phiên toà ở các toà án cấp dưới trừ những luật sư tư vấn giàu kinh nghiệm tranh tụng có thê dự thi sát hạch phụ dé giành quyền tham dự những phiên toà ở các toà án cấp cao hơn. Cuộc dau tranh của các luật sư tư van dé 277 xoá bỏ sự phân biệt giữa luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn đã diễn ra từ nhiều năm nay nhưng sự hợp nhất hoàn toàn hai nghề luật sư này đã bị cự tuyệt ở Anh. Luật sư tư vấn chịu sự quan lí của Hội luật su (Law Society) của England và xứ Wales. Chức năng của Hội luật sư trong mối quan hệ với các luật sư tư vấn cũng tương tự như chức năng của Đoàn luật sư trong mối quan hệ với luật sư tranh tụng.
Tức là Hội luật sư cũng quản lí việc gia nhập hội của các luật sư tư vấn, thực thi và cưỡng chế quy chế của Hội và đại diện cho lợi ích của các luật sư tư vấn. Luật sư tranh tụng Luật sư tranh tụng, theo truyền thống, là các chuyên gia biện hộ có quyền tham dự tất cả các phiên xử tại tất cả các toà án và cơ quan tài phán. Luật sư tranh tụng cũng có quyền đưa ra ý kiến của chuyên gia pháp lí khi được các luật sư tư vấn tham khảo. Tương tự như luật sư tư vấn, luật sư tranh tụng thường chuyên sâu trong một số lĩnh vực pháp luật nhất định và thực chất, các văn phòng luật sư tranh tụng thường được biết đến vì chuyên môn của văn phòng trong một lĩnh vực pháp luật đặc thù nào đó mà văn phòng đó hành nghề.
Ví dụ lĩnh vực tranh tụng hình sự ở Anh rất khác với lĩnh vực tương ứng ở nhiều nước trên thế giới ở chỗ, một luật sư tranh tụng có thê hành sự với tư cách luật sư buộc tội trong vụ này và với tư cách là luật sư bào chữa trong vụ khác. Nói cách khác, không có sự phân biệt giữa luật sư bào chữa hay luật sư buộc tội; một luật sư tranh tụng có thê đóng cả hai vai trò bào chữa và buộc tội ở những thời điểm khác nhau và trong các vụ án hình sự khác nhau. Thực tế này là kết quả của 278 cái gọi là “nguyên tắc bến xe taxi” (“cab rank” rule), là nguyên tắc yêu cầu người luật sư tranh tụng phải chấp nhận bất cứ vụ việc nào được đưa đến cho ho; họ chỉ có thé từ chối một vụ án hình sự nào đó trong những hoàn cảnh giới hạn, ví du: khi ho thiếu kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực pháp luật có liên quan tới vụ Việc đó. Luật sư tranh tụng không được phép liên hệ trực tiếp với khách hàng.
Họ chỉ có thể tiếp cận với khách hàng sau khi được một luật sư tư vấn nào đó giới thiệu. Đại bộ phận công việc của các văn phòng luật sư tranh tụng được tiễn hành ở các thành phố lớn ở Anh, đặc biệt là ở London. Các luật sư tranh tụng ở Anh thường hành nghề cùng nhau trong một chuỗi văn phòng luật sư mặc dù họ có thể không phải là thành viên của các văn phòng luật sư đó. Họ là những người hành nghề độc lập nhưng có sự thoả thuận với các văn phòng luật sư là sẽ đóng góp chi phí quản lí hành chính cho văn phòng luật sư mà họ làm việc cho, tương tự như những luật sư tranh tụng hành nghề với tư cách thành viên của văn phòng luật sư đó.
Đây là sự khác biệt cơ bản giữa luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn là những người, theo truyền thống, thường hành nghé bang cách thành lập nên công ti hợp danh với các luật sư tư vấn khác, cùng chia lợi nhuận và rủi ro trong kinh doanh. Luật sư tranh tụng chịu sự quản lí của Đoàn luật sư (Bar Council) của England và xứ Wales. Đoàn luật sư có quyền quyết định các tiêu chí đào tạo luật sư và điều kiện để được gia nhập Đoàn luật sư; ban bố và cưỡng chế thi hành quy chế của Đoàn (1).Xem: Code of Conduct of the English Bar, Paragraph 602. 279 luật sư; và đại diện cho lợi ích của các luật sư tranh tụng là thành viên của Đoàn luật sư.
Nghề thầm phán Có nhiều loại thâm phán khác nhau ở England và xứ Wales, từ các pháp quan không chuyên tới các thâm phán chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm. Khác với nhiều nước trên thế giới, trong nhiều thế kỉ, Vương quốc Anh không có cấu trúc nghề nghiệp riêng cho thẩm phán. Trừ các pháp quan không chuyên là trường hợp ngoại lệ, còn lại các thâm phán khác ở Anh thường được bô nhiệm từ các luật sư tranh tụng và ở mức độ thấp hơn, từ luật sư tư vấn. Theo truyền thống, kiểu bổ nhiệm thẩm phán này được lí giải rang: ban thân các thâm phán buộc phải là người đã có kinh nghiệm trong việc trình bày và phân tích các vụ việc và luật sư tranh tụng chính là những người đã quá quen thuộc với công việc đó.
Tuy nhiên, bất lợi của việc bổ nhiệm thẩm phán từ các luật sư tranh tụng là luật sư tranh tụng có thé bất ngờ trở thành thẩm phán, một vị trí công tác mà anh ta có thể chưa hề có kinh nghiệm và cũng chưa bao giờ được đào tạo. Dé giải quyết rắc rối trên, Uy ban nghiên cứu thâm phán đã được thành lập với vai trò đào tạo thâm phán. Cơ chế bổ nhiệm thấm phán ở Anh đã có những thay đồi. Trước đây, Đại pháp quan là người duy nhất có quyền và chịu trách nhiệm bồ nhiệm tat cả thâm phán, pháp quan và các thành viên của các cơ quan tài phán.
Luật cải tổ Hiến pháp năm 2005 đã thành lập Uy ban bổ nhiệm thấm phán cho England va xứ Wales để lựa chọn và đề xuất những ứng cử viên thích hợp cho chức danh thâm phán, gửi tới Đại pháp quan để bổ nhiệm. Như vậy, 280 trách nhiệm bổ nhiệm thấm phán theo Luật cải tổ Hiến pháp năm 2005 được đặt vào tay tập thé chứ không còn năm trong tay cá nhân Đại pháp quan như trước; việc bô nhiệm được tiễn hành căn cứ vào phẩm chất và năng lực của từng ứng cử viên.t z ` A A ` x 3 ` z 3 tA 1 II HE THONG PHÁP LUAT MY 1. Sự hình thành va phát triển của hệ thong pháp luật Mỹ Ngay từ giai đoạn khởi đầu của quá trình thuộc địa hoá của người Anh ở châu Mỹ, hệ thống pháp luật của Anh đã tỏ ra không phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của các thuộc địa ở châu My. Nhiệm vụ chủ yếu của thực dân Anh ở châu Mỹ trong những ngày đầu đặt chân lên mảnh đất này là chống chọi với thiên nhiên và sự tấn công của người da đỏ vì vậy nhu cầu về toà án và luật sư hầu như không nảy sinh.
Một vài thuộc địa của Anh ở Mỹ như Pennsylvania và Massachusetts đã xây dựng chế độ thần quyền trong đó mọi tranh chấp đều được giải quyết bởi các giáo sĩ cơ đốc giáo dựa trên kinh thánh chứ không cần dùng tới luật sư, thẩm phán và án lệ của Anh quốc. Từ nửa đầu của thế kỉ XVII các thuộc địa này đã có xu hướng coi trọng pháp luật thành văn thể hiện ở hoạt động pháp điển hoá và ban hành bộ luật ở Massachusetts năm 1634 va Pennsylvania năm 1682. Tuy nhiên, hoạt động pháp điển hoá này hoàn toàn không có mối liên hệ nào với kĩ thuật pháp điển hoá hiện đại của người La Mã. Bước sang thế ki XVIII, tình hình kinh tế và xã hội của các (1).Xem thêm: TS.
Nguyễn Thị Ánh Vân, “Cải cách tư pháp ở Anh và những ý kiến về cải cách tư pháp ở Việt Nam trong thời gian tới”, Tạp chí luật học, số 8/2007, tr.Xem: Rene David & John E. Brierley, Major Legal Systems in the World Today, London Steven & Sons, 1985, at 399. 281 thuộc địa của Anh ở Mỹ đã có những biến chuyển do nhu cầu giao lưu thương mại giữa các thuộc địa này với nước ngoài va với nước mẹ Anh quốc đã tăng lên. Trước tình thế đó, chính trị thần quyền đã mat dần chỗ đứng ở các thuộc địa này, đồng thời một tầng lớp luật sư gồm những người đã từng tốt nghiệp các cơ sở đào tạo luật sư ở London từ trước khi đi cư sang châu Mỹ đã bắt đầu hành nghề ở các thuộc địa mới này.
Cùng với sự hiện diện và hoạt động của các luật sư Anh, sách luật từ Anh quốc cũng dần dần được sử dụng phô biến ở các thuộc địa, đặc biệt là cuốn “Bình luận về pháp luật Anh” của Blackstone. Chủ nghĩa đế quốc của Anh vào giữa thế ki XVIII đã dan đến phong trào đấu tranh giành độc lập ở Mỹ.