Giáo Trình Luật Hình Sự Việt Nam Phần Chung - Trường Đại Học Luật Hà Nội

Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần chung, Đại học Luật Hà Nội, Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Hoàng Văn Hùng, cung cấp kiến thức pháp lý chuyên sâu.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Hình Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình

2019

214
157
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI GIỚI THIỆU

1. CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA LUẬT HÌNH SỰ

1.1. KHÁI NIỆM LUẬT HÌNH SỰ

1.2. ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ

1.3. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ

1.4. QUY PHẠM PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

1.5. NHIỆM VỤ (CHỨC NĂNG) CỦA LUẬT HÌNH SỰ

1.5.1. Chức năng chống và phòng ngừa tội phạm

1.5.2. Chức năng bảo vệ của luật hình sự

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Giáo trình Luật Hình Sự Việt Nam Phần Chung

Giáo trình Luật Hình Sự Việt Nam Phần Chung là tài liệu quan trọng được biên soạn bởi Trường Đại Học Luật Hà Nội, dưới sự chủ biên của GS. Nguyễn Ngọc Hòa và sự tham gia của nhiều chuyên gia như TS. Hoàng Văn Hùng. Giáo trình này được xuất bản lần đầu vào năm 2000 và đã trải qua nhiều lần chỉnh sửa, cập nhật để phù hợp với Bộ Luật Hình Sự Việt Nam năm 2015 và các sửa đổi năm 2017. Giáo trình này được chia thành ba quyển, trong đó Phần Chung tập trung vào các vấn đề lý luận cơ bản của Luật Hình Sự, bao gồm khái niệm, nhiệm vụ, nguyên tắc, và các quy định chung về tội phạm và hình phạt.

1.1. Lịch sử phát triển và cập nhật

Giáo trình Luật Hình Sự Việt Nam đã được biên soạn và phát triển qua nhiều năm, bắt đầu từ năm 1992. Với sự ra đời của Bộ Luật Hình Sự năm 2015, giáo trình đã được cập nhật để phản ánh những thay đổi mới nhất trong hệ thống pháp luật. GS. Nguyễn Ngọc Hòa và các tác giả đã tiến hành rà soát, chỉnh lý, và bổ sung nội dung để đảm bảo tính khoa học và thực tiễn. Điều này giúp giáo trình trở thành công cụ hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu, và giảng dạy tại Đại Học Luật Hà Nội cũng như các cơ sở đào tạo luật khác.

1.2. Cấu trúc và nội dung chính

Giáo trình được chia thành các chương, mỗi chương tập trung vào một vấn đề cụ thể của Luật Hình Sự. Phần Chung bao gồm các chương về khái niệm, nhiệm vụ, nguyên tắc, và các quy định chung về tội phạm và hình phạt. Các chương được trình bày một cách hệ thống, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn. Các tác giả cũng chú trọng đến việc giải thích các khái niệm pháp lý một cách rõ ràng, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và hiểu sâu về Luật Hình Sự Việt Nam.

II. Khái niệm và nhiệm vụ của Luật Hình Sự

Luật Hình Sự là một ngành luật đặc biệt trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ xã hội phát sinh khi có hành vi phạm tội. Giáo trình đã làm rõ khái niệm Luật Hình Sự thông qua việc phân tích các quy phạm pháp luật xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội và quy định hình phạt. Nhiệm vụ chính của Luật Hình Sự là bảo vệ trật tự xã hội, trấn áp tội phạm, và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.

2.1. Đối tượng điều chỉnh của Luật Hình Sự

Đối tượng điều chỉnh của Luật Hình Sự là quan hệ xã hội giữa Nhà nước và người phạm tội. Khi có hành vi phạm tội xảy ra, Nhà nước có quyền buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự, bao gồm hình phạt và các biện pháp hình sự khác. Giáo trình cũng đề cập đến việc mở rộng đối tượng điều chỉnh khi Bộ Luật Hình Sự năm 2015 quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại.

2.2. Phương pháp điều chỉnh của Luật Hình Sự

Phương pháp điều chỉnh của Luật Hình Sự là phương pháp mệnh lệnh - phục tùng. Nhà nước có quyền buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự, và người phạm tội có nghĩa vụ pháp lý phải tuân thủ. Giáo trình nhấn mạnh rằng phương pháp này đảm bảo tính cưỡng chế của pháp luật, đồng thời gián tiếp điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội.

III. Chức năng và giá trị thực tiễn của Luật Hình Sự

Luật Hình Sự có ba chức năng chính: chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ các quan hệ xã hội, và giáo dục pháp luật. Giáo trình đã phân tích sâu sắc từng chức năng, nhấn mạnh vai trò của Luật Hình Sự trong việc duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền lợi của công dân. Đồng thời, giáo trình cũng chỉ ra những hạn chế và thách thức trong việc áp dụng Luật Hình Sự trong thực tiễn.

3.1. Chức năng chống và phòng ngừa tội phạm

Chức năng chống và phòng ngừa tội phạm là nhiệm vụ cốt lõi của Luật Hình Sự. Giáo trình đã làm rõ mối quan hệ giữa hai hoạt động này, trong đó chống tội phạm là hoạt động trực tiếp nhằm xử lý các hành vi phạm tội, còn phòng ngừa tội phạm là các biện pháp ngăn chặn tội phạm xảy ra. Luật Hình Sự được coi là công cụ sắc bén để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

3.2. Chức năng bảo vệ và giáo dục

Chức năng bảo vệ của Luật Hình Sự thể hiện qua việc bảo vệ các quan hệ xã hội quan trọng khỏi sự xâm hại của tội phạm. Chức năng giáo dục được thực hiện thông qua việc răn đe, giáo dục ý thức pháp luật cho công dân. Giáo trình nhấn mạnh rằng hai chức năng này có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau trong việc duy trì trật tự xã hội.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I KHÁI NIỆM, NHIEM VU VÀ CÁC NGUYEN TAC CỦA LUẬT HÌNH SỰ I. KHÁI NIỆM LUAT HÌNH SỰ Luật hình sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật có đối tượng và phương pháp điều chỉnh đặc biệt, tuân theo các nguyên tắc và thực hiện các nhiệm vụ riêng." Với tính chất là ngành luật, luật hình sự được hiểu là hệ thong các quy phạm pháp luật xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt có thể áp dung cho các tội phạm do. Gan với luật hình sự là hiện tượng tội phạm và biện pháp trách nhiệm đối với hiện tượng đó. Hình phạt và biện pháp hình sự phi hình phạt tuy cùng thuộc các biện pháp hình sự nhưng hình phạt vẫn được xem là biện pháp hình sự đặc trưng có tính “truyền thống”.

Do vậy, thường có sự “vô tình” đồng nhất giữa hình phạt với các biện pháp hình sự. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay (1). Khái niệm luật hình sự có thể được dùng đề chỉ ngành luật nhưng cũng có thé được hiểu là một trong những hình thức văn bản quy phạm pháp luật- luật (hoặc bộ luật) của ngành luật hình sự. Luật hình sự còn có thê được dùng để chỉ môn khoa học nghiên cứu ngành luật hình sự.

là phát triển biện pháp hình sự phi hình phạt cùng với hạn chế hình phạt. Luật hình sự Việt Nam cũng đang theo xu hướng này. Với hai nội dung như vậy mà ngành luật này có tên gọi gắn với một trong hai nội dung đó - tội phạm hoặc hình phạt. Vi du: Trong tiếng Anh, ngành luật này thường được gọi là Criminal Law (pháp luật hay ngành luật về tội phạm); còn trong tiếng Đức, ngành luật này lại thường được gọi là Strafrecht (pháp luật hay ngành luật về hình phạt).

Trong tiếng Việt, hình sự có nghĩa là sự trừng tri, trừng phạt và ngành luật hình sự cũng có nghĩa là ngành luật về trừng phạt hay về hình phạt. Quy phạm pháp luật của ngành luật hình sự được hình thành qua các quy định của pháp luật. Đó là các quy định chung về tội phạm và hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt, là các quy định về các tội phạm cụ thể và các khung hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt cụ thể. Các quy định này đều phải được thê hiện ở hình thức văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam hay nói cách khác, các quy định về tội phạm và hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt phải do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ban hành vì tính đặc biệt của các quy định này.

Như đã trình bày, bên cạnh nội dung quy định hình phạt, ngành luật hình sự còn quy định các biện pháp hình sự khác không phải là hình phạt mà thường được gọi là biện pháp hình sự phi hình phạt. Trong các BLHS Việt Nam, các biện pháp này có tên gọi là các biện pháp tư pháp; các biện pháp giám 10 sát, giáo dục và được coi là các biện pháp hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt. Các biện pháp phi hình phạt này có xu hướng phát triển trong luật hình sự của các nước cũng như của Việt Nam. Tuy nhiên, hình phạt vẫn là biện pháp cưỡng chế hình sự chính và có tính đặc trưng của ngành luật hình sự.

Do vậy, khi nói về ngành luật hình sự, các tài liệu thường chỉ nói đến hình phạt. BLHS Việt Nam khi xác định nhiệm vụ của mình cũng chỉ viết: “. Bộ /uật này quy định vỀ tội phạm và hình phạt ”. (Điều 1 BLHS) Tuy nhiên, khi định nghĩa khái niệm tội phạm, Điều 8 BLHS không đề cập đến tính “chịu hình phat” như một số tài liệu mà đã đề cập đến đặc điểm “bị xử lý hình sự” của tội phạm.

Theo đó, “chịu hình phạt” chỉ là một nội dung của “bị xử lý hình sự”; hình phạt chỉ là một loại của biện pháp hình sự. Với nội dung xác định tội phạm và quy định hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt, ngành luật hình sự có đối tượng điều chỉnh và phương pháp diéu chỉnh đặc biệt. Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự Đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự trước hết là quan hệ xã hội giữa Nhà nước và người phạm tội. Khi có sự kiện tội phạm xảy ra - một loại quan hệ xã hội đặc biệt giữa Nhà nước và chủ thê đã gây ra sự kiện tội phạm đó được phát sinh.

Ngành luật hình sự điều chỉnh quan hệ xã hội này qua việc xác định quyền và nghĩa vụ pháp lí của hai chủ thể - Nhà nước và người phạm tội. Trong quan hệ này, người phạm tội có nghĩa vụ pháp lí phải chịu TNHS, trong đó có hình phạt con Nhà nước có quyên buộc người phạm tội phải thực hiện nghĩa II vụ pháp lí đó. Đối với người phạm tội, Nhà nước có quyền buộc họ phải chịu TNHS; đối với xã hội, Nhà nước có trách nhiệm xử lí nghiêm minh những người đã thực hiện hành vi phạm tội để bảo đảm trật tự xã hội, trấn áp tội phạm. Người phạm tội, tuy có nghĩa vụ pháp lí phải chịu TNHS nhưng cũng có quyền yêu cầu Nhà nước chỉ được buộc mình chịu TNHS đúng với quy định của pháp luật.

Với việc quy định TNHS của pháp nhân thương mai, luật hình sự Việt Nam đã mở rộng phạm vi chủ thể phải chịu TNHS và do vậy cũng mở rộng đối tượng điều chỉnh của mình. Theo đó, ngành luật hình sự cũng điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước với pháp nhân thương mại phải chịu TNHS. Trong quan hệ này, Nhà nước có quyền và nghĩa vụ đối với pháp nhân thương mại phải chịu TNHS tương tự như đối với người phạm tội. Trái lại, pháp nhân thương mại phải chịu TNHS cũng có nghĩa vụ và quyền tương tự như người phạm tội.

Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là quan hệ xã hội có tính đặc thù. Quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự không những không cần thiết cho sự tổn tại và phát triển của xã hội mà trái lại, xã hội đã phải chịu sự tác động xâu khi quan hệ xã hội này phát sinh. Các quan hệ xã hội cần thiết cho xã hội được các ngành luật khác điều chỉnh như quan hệ sở hữu được ngành luật dân sự điều chỉnh, quan hệ vợ chồng được ngành luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh v. đều không phải là đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự nhưng có thé là đói tượng bảo vệ của ngành luật hình sự khi bị 12 xâm hại ở mức độ nhất định.

Các ngành luật khác có thể vừa điều chỉnh và vừa bảo vệ cùng nhóm các quan hệ xã hội nhất định, còn ngành luật hình sự chỉ điều chỉnh một loại quan hệ xã hội - quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội cũng như với pháp nhân thương mại phải chịu TNHS và bảo vệ nhiều loại quan hệ xã hội khác được các ngành luật khác điều chỉnh. Với lí do này mà quy phạm pháp luật hình sự có thé được coi là quy phạm pháp luật bao vệ mà không phải là quy phạm pháp luật diéu chỉnh.” Quy phạm pháp luật hình sự không chỉ xác định quyền và nghĩa vụ pháp lí của các chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự mà còn là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người có phải là tội phạm hay không.) Là tiêu chuẩn đánh giá hành vi của con người, quy phạm pháp luật hình sự tuy không trực tiếp điều chỉnh xử sự của con người trong cuộc sống hàng ngày như các ngành luật khác (mà chỉ điều chỉnh xử sự của Nhà nước và người phạm tội cũng như pháp nhân thương mại phải chịu TNHS sau khi có sự kiện tội phạm xảy ra) nhưng vẫn có tác động điều chỉnh xử sự đó của con người. Quy phạm pháp luật hình sự xác định tội phạm, quy định hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt và qua (1). Đào Trí Úc thì luật hình sự có thể bảo vệ cả các quan hệ xã hội chưa được ngành luật nào điều chỉnh (Đào Trí Úc, Luật hình sự Việt Nam, Quyến 1 - Những van dé chung, Nxb.

Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. Theo cách phân loại quy phạm pháp luật được trình bày trong Gido trinh li luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 396; (hoặc trong cuốn Li luận về nhà nước và pháp ludt của PGS.

Nguyễn Văn Động, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr.Xem: Trường Dai học Luật Hà Nội, Giáo trình lí luận nhà nước và pháp ludt, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 13 đó gián tiếp “cầm đoán” việc thực hiện những hành vi bị coi là tội phạm - những hành vi đã được quy định trong luật hình sự.

Với lí do này mà quy phạm pháp luật hình sự còn có thê được coi là quy phạm pháp luật cấm đoán va sự cấm đoán này gián tiếp điều chỉnh xử sự của con người theo hướng tránh thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh các quy phạm pháp luật có tính “cấm đoán” như vậy, luật hình sự cũng có một sé quy phạm pháp luật “cho phép” như là sự bổ sung dé đảm bao tinh hoàn chỉnh của hệ thống quy phạm pháp luật hình sự. Ví dụ: Cho phép gây thiệt hại khi phải phòng vệ v. Phương pháp điều chỉnh của luật hình sự Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng điều chỉnh cũng như nội dung quyên, nghĩa vụ pháp lí của các chủ thể trong quan hệ pháp luật hình sự, có thé rút ra phương pháp điều chỉnh của ngành luật hình sự là phương pháp mệnh lệnh - phục tùng.

Trong quan hệ pháp luật hình sự, Nhà nước có quyền buộc người phạm tội phải chịu TNHS, phải chịu hình phạt; người phạm tội có nghĩa vụ pháp lí phải thực hiện TNHS, chấp hành hình phạt và việc chấp hành này không thé tránh khỏi vì nó được bảo đảm băng cưỡng chế của Nhà nước. Trong trường hợp pháp nhân thương mại cùng phải chịu TNHS với cá nhân về tội phạm đã xảy ra, Nhà nước có quyền buộc pháp nhân thương mại phải chịu hình phạt; pháp nhân thương mại có nghĩa vụ pháp lí phải chấp hành hình phạt.Xem: Chương XI. 14 Phương pháp điều chỉnh của ngành luật hình sự là phương pháp mệnh lệnh - phục tùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giáo trình Luật Hình Sự Việt Nam Phần Chung - Đại Học Luật Hà Nội là tài liệu chuyên sâu do Nguyễn Ngọc Hòa và Hoàng Văn Hùng biên soạn, cung cấp kiến thức nền tảng về luật hình sự Việt Nam. Tài liệu này tập trung vào các nguyên tắc cơ bản, khái niệm, và quy định pháp lý trong phần chung của Bộ luật Hình sự, giúp người đọc hiểu rõ hơn về cấu trúc và cách áp dụng luật trong thực tiễn. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho sinh viên, nghiên cứu sinh, và những người hành nghề luật, đặc biệt khi nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến tội phạm và trách nhiệm hình sự.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học chế định đồng phạm theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015, nghiên cứu sâu về các quy định pháp lý liên quan đến đồng phạm. Ngoài ra, Khoá luận tốt nghiệp thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh hải dương cung cấp cái nhìn thực tiễn về quy trình tố tụng hình sự. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật việt nam giúp hiểu rõ hơn về thời hiệu khởi kiện, một khía cạnh quan trọng trong hệ thống pháp luật. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề pháp lý liên quan.