CHƯƠNG I KHÁI NIỆM, NHIEM VU VÀ CÁC NGUYEN TAC CỦA LUẬT HÌNH SỰ I. KHÁI NIỆM LUAT HÌNH SỰ Luật hình sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật có đối tượng và phương pháp điều chỉnh đặc biệt, tuân theo các nguyên tắc và thực hiện các nhiệm vụ riêng." Với tính chất là ngành luật, luật hình sự được hiểu là hệ thong các quy phạm pháp luật xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt có thể áp dung cho các tội phạm do. Gan với luật hình sự là hiện tượng tội phạm và biện pháp trách nhiệm đối với hiện tượng đó. Hình phạt và biện pháp hình sự phi hình phạt tuy cùng thuộc các biện pháp hình sự nhưng hình phạt vẫn được xem là biện pháp hình sự đặc trưng có tính “truyền thống”.
Do vậy, thường có sự “vô tình” đồng nhất giữa hình phạt với các biện pháp hình sự. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay (1). Khái niệm luật hình sự có thể được dùng đề chỉ ngành luật nhưng cũng có thé được hiểu là một trong những hình thức văn bản quy phạm pháp luật- luật (hoặc bộ luật) của ngành luật hình sự. Luật hình sự còn có thê được dùng để chỉ môn khoa học nghiên cứu ngành luật hình sự.
là phát triển biện pháp hình sự phi hình phạt cùng với hạn chế hình phạt. Luật hình sự Việt Nam cũng đang theo xu hướng này. Với hai nội dung như vậy mà ngành luật này có tên gọi gắn với một trong hai nội dung đó - tội phạm hoặc hình phạt. Vi du: Trong tiếng Anh, ngành luật này thường được gọi là Criminal Law (pháp luật hay ngành luật về tội phạm); còn trong tiếng Đức, ngành luật này lại thường được gọi là Strafrecht (pháp luật hay ngành luật về hình phạt).
Trong tiếng Việt, hình sự có nghĩa là sự trừng tri, trừng phạt và ngành luật hình sự cũng có nghĩa là ngành luật về trừng phạt hay về hình phạt. Quy phạm pháp luật của ngành luật hình sự được hình thành qua các quy định của pháp luật. Đó là các quy định chung về tội phạm và hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt, là các quy định về các tội phạm cụ thể và các khung hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt cụ thể. Các quy định này đều phải được thê hiện ở hình thức văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam hay nói cách khác, các quy định về tội phạm và hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt phải do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ban hành vì tính đặc biệt của các quy định này.
Như đã trình bày, bên cạnh nội dung quy định hình phạt, ngành luật hình sự còn quy định các biện pháp hình sự khác không phải là hình phạt mà thường được gọi là biện pháp hình sự phi hình phạt. Trong các BLHS Việt Nam, các biện pháp này có tên gọi là các biện pháp tư pháp; các biện pháp giám 10 sát, giáo dục và được coi là các biện pháp hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt. Các biện pháp phi hình phạt này có xu hướng phát triển trong luật hình sự của các nước cũng như của Việt Nam. Tuy nhiên, hình phạt vẫn là biện pháp cưỡng chế hình sự chính và có tính đặc trưng của ngành luật hình sự.
Do vậy, khi nói về ngành luật hình sự, các tài liệu thường chỉ nói đến hình phạt. BLHS Việt Nam khi xác định nhiệm vụ của mình cũng chỉ viết: “. Bộ /uật này quy định vỀ tội phạm và hình phạt ”. (Điều 1 BLHS) Tuy nhiên, khi định nghĩa khái niệm tội phạm, Điều 8 BLHS không đề cập đến tính “chịu hình phat” như một số tài liệu mà đã đề cập đến đặc điểm “bị xử lý hình sự” của tội phạm.
Theo đó, “chịu hình phạt” chỉ là một nội dung của “bị xử lý hình sự”; hình phạt chỉ là một loại của biện pháp hình sự. Với nội dung xác định tội phạm và quy định hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt, ngành luật hình sự có đối tượng điều chỉnh và phương pháp diéu chỉnh đặc biệt. Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự Đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự trước hết là quan hệ xã hội giữa Nhà nước và người phạm tội. Khi có sự kiện tội phạm xảy ra - một loại quan hệ xã hội đặc biệt giữa Nhà nước và chủ thê đã gây ra sự kiện tội phạm đó được phát sinh.
Ngành luật hình sự điều chỉnh quan hệ xã hội này qua việc xác định quyền và nghĩa vụ pháp lí của hai chủ thể - Nhà nước và người phạm tội. Trong quan hệ này, người phạm tội có nghĩa vụ pháp lí phải chịu TNHS, trong đó có hình phạt con Nhà nước có quyên buộc người phạm tội phải thực hiện nghĩa II vụ pháp lí đó. Đối với người phạm tội, Nhà nước có quyền buộc họ phải chịu TNHS; đối với xã hội, Nhà nước có trách nhiệm xử lí nghiêm minh những người đã thực hiện hành vi phạm tội để bảo đảm trật tự xã hội, trấn áp tội phạm. Người phạm tội, tuy có nghĩa vụ pháp lí phải chịu TNHS nhưng cũng có quyền yêu cầu Nhà nước chỉ được buộc mình chịu TNHS đúng với quy định của pháp luật.
Với việc quy định TNHS của pháp nhân thương mai, luật hình sự Việt Nam đã mở rộng phạm vi chủ thể phải chịu TNHS và do vậy cũng mở rộng đối tượng điều chỉnh của mình. Theo đó, ngành luật hình sự cũng điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước với pháp nhân thương mại phải chịu TNHS. Trong quan hệ này, Nhà nước có quyền và nghĩa vụ đối với pháp nhân thương mại phải chịu TNHS tương tự như đối với người phạm tội. Trái lại, pháp nhân thương mại phải chịu TNHS cũng có nghĩa vụ và quyền tương tự như người phạm tội.
Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là quan hệ xã hội có tính đặc thù. Quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự không những không cần thiết cho sự tổn tại và phát triển của xã hội mà trái lại, xã hội đã phải chịu sự tác động xâu khi quan hệ xã hội này phát sinh. Các quan hệ xã hội cần thiết cho xã hội được các ngành luật khác điều chỉnh như quan hệ sở hữu được ngành luật dân sự điều chỉnh, quan hệ vợ chồng được ngành luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh v. đều không phải là đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự nhưng có thé là đói tượng bảo vệ của ngành luật hình sự khi bị 12 xâm hại ở mức độ nhất định.
Các ngành luật khác có thể vừa điều chỉnh và vừa bảo vệ cùng nhóm các quan hệ xã hội nhất định, còn ngành luật hình sự chỉ điều chỉnh một loại quan hệ xã hội - quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội cũng như với pháp nhân thương mại phải chịu TNHS và bảo vệ nhiều loại quan hệ xã hội khác được các ngành luật khác điều chỉnh. Với lí do này mà quy phạm pháp luật hình sự có thé được coi là quy phạm pháp luật bao vệ mà không phải là quy phạm pháp luật diéu chỉnh.” Quy phạm pháp luật hình sự không chỉ xác định quyền và nghĩa vụ pháp lí của các chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự mà còn là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người có phải là tội phạm hay không.) Là tiêu chuẩn đánh giá hành vi của con người, quy phạm pháp luật hình sự tuy không trực tiếp điều chỉnh xử sự của con người trong cuộc sống hàng ngày như các ngành luật khác (mà chỉ điều chỉnh xử sự của Nhà nước và người phạm tội cũng như pháp nhân thương mại phải chịu TNHS sau khi có sự kiện tội phạm xảy ra) nhưng vẫn có tác động điều chỉnh xử sự đó của con người. Quy phạm pháp luật hình sự xác định tội phạm, quy định hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt và qua (1). Đào Trí Úc thì luật hình sự có thể bảo vệ cả các quan hệ xã hội chưa được ngành luật nào điều chỉnh (Đào Trí Úc, Luật hình sự Việt Nam, Quyến 1 - Những van dé chung, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. Theo cách phân loại quy phạm pháp luật được trình bày trong Gido trinh li luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 396; (hoặc trong cuốn Li luận về nhà nước và pháp ludt của PGS.
Nguyễn Văn Động, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr.Xem: Trường Dai học Luật Hà Nội, Giáo trình lí luận nhà nước và pháp ludt, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 13 đó gián tiếp “cầm đoán” việc thực hiện những hành vi bị coi là tội phạm - những hành vi đã được quy định trong luật hình sự.
Với lí do này mà quy phạm pháp luật hình sự còn có thê được coi là quy phạm pháp luật cấm đoán va sự cấm đoán này gián tiếp điều chỉnh xử sự của con người theo hướng tránh thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh các quy phạm pháp luật có tính “cấm đoán” như vậy, luật hình sự cũng có một sé quy phạm pháp luật “cho phép” như là sự bổ sung dé đảm bao tinh hoàn chỉnh của hệ thống quy phạm pháp luật hình sự. Ví dụ: Cho phép gây thiệt hại khi phải phòng vệ v. Phương pháp điều chỉnh của luật hình sự Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng điều chỉnh cũng như nội dung quyên, nghĩa vụ pháp lí của các chủ thể trong quan hệ pháp luật hình sự, có thé rút ra phương pháp điều chỉnh của ngành luật hình sự là phương pháp mệnh lệnh - phục tùng.
Trong quan hệ pháp luật hình sự, Nhà nước có quyền buộc người phạm tội phải chịu TNHS, phải chịu hình phạt; người phạm tội có nghĩa vụ pháp lí phải thực hiện TNHS, chấp hành hình phạt và việc chấp hành này không thé tránh khỏi vì nó được bảo đảm băng cưỡng chế của Nhà nước. Trong trường hợp pháp nhân thương mại cùng phải chịu TNHS với cá nhân về tội phạm đã xảy ra, Nhà nước có quyền buộc pháp nhân thương mại phải chịu hình phạt; pháp nhân thương mại có nghĩa vụ pháp lí phải chấp hành hình phạt.Xem: Chương XI. 14 Phương pháp điều chỉnh của ngành luật hình sự là phương pháp mệnh lệnh - phục tùng.