CHƯƠNG I KHÁI NIỆM VE LUẬT CHUNG KHOAN I. KHÁI NIEM VE CHUNG KHOAN VA THỊ TRƯỜNG CHUNG KHOAN 1. Khai niệm, đặc điểm va phân loại chứng khoán 1. Sự xuất hiện của chứng khoán Trong đời sống kinh tế, thuật ngữ chứng khoán (stock, security) được tìm hiểu theo những yêu cầu, mục đích khác nhau.
Đây là khái niệm phức tạp vì bản thân nó đã hàm chứa hàng loạt quan hệ kinh tế phức tạp phát sinh giữa người cần vốn và người có vốn. Chứng khoán lần đầu tiên xuất hiện ở châu Âu vào giữa thế kỉ XV tai Bruges (Bi), theo đó, các thoả thuận được xác lập cho các giao dịch thực hiện ngay và các giao dịch được thực hiện sau khoảng thời gian nhất định. Đây cũng chính là những loại chứng khoán phức tạp tồn tại hiện nay dưới dạng "hợp đồng giao ngay" hoặc "hợp đồng giao sau". Ở châu Mỹ (nơi có quốc gia với nền kinh tế chiếm tỉ trọng lớn nhất của nền kinh tế toàn cầu), sau khi đăng quang (1789), Tổng thống Gieorge Washington công bố việc phát hành công trái; sau đó các loại cổ phiếu cũng được phát thành dé hình thành các tổ chức kinh tế.
Ở Việt Nam, cụm từ chứng khoán đã xuất hiện khá lâu ngay từ thời kì Pháp thuộc do hiện tượng du nhập các mô hình tổ chức kinh tế từ Pháp, Anh, sau năm 1945 tại miền Nam Việt Nam có sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Hoa Kỳ. Việc thành lập ngân hàng cô phần, các công tỉ trong thời kì đó là ví dụ. Cho đến nay, thuật ngữ chứng khoán đã trở nên rất quen thuộc với các dạng như cô phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư. Định nghĩa chứng khoán Việc định nghĩa chứng khoán có thể khác nhau nhất định ở từng quốc gia, tuỳ theo mục đích khi điều chỉnh loại tài sản đặc biệt này.
Theo Black Law's Dictionary, chứng khoán được hiểu là công cụ chứng minh quyền sở hữu công tỉ (ví dụ như cô phiếu), quyền chủ nợ với công ti hoặc chính phủ (vi dụ như trái phiếu) hoặc các quyền khác của người nắm giữ (ví dụ như quyền chọn). Điều 2 luật chứng khoán và thị trường chứng khoán Nhật Bản quy định tới 11 loại khác nhau; trong khi đó, Điều 1 Luật chứng khoán Hoa Kỳ năm 1933 không xác định thế nào được coi là chứng khoán mà xác định các trường hợp sẽ không được coi là chứng khoán (điều này có nghĩa, số lượng các loại chứng khoán sẽ do chính thực tiễn quyết định). Ở Việt Nam, pháp luật hiện hành quy định: "Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyên và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phan vốn của tô chức phát hành. Chứng khoản được thể hiện dưới hình thức chứng chi, bút toán ghi số hoặc dit liệu điện tứ, bao gom các loại sau day: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quy; b) Quyên mua cổ phan, chứng quyên, quyên chọn mua, quyên (1).
Garner, “Black’s Law Dictionary”, West Group (7th Ed. 8 chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoản hoặc chỉ số chứng khoản; c) Hop đồng góp vốn dau tu; d) Cac loại chứng khoán khác do Bộ tài chính quy định z0) Cách xác định hiện hành là sự kế thừa, phát triển của quá trình hình thành các phương tiện huy động vốn. Giai đoạn đầu của chặng đường đổi mới, pháp luật Việt Nam công nhận chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu (tại Luật công ti năm 1990, các văn bản pháp luật quy định về phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp). Từ năm 1998, băng việc ban hành Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998, xuất hiện thêm loại chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán.
Từ năm 2010, luật chứng khoán thừa nhận thêm loại chứng khoán mới đó là hợp đồng góp vốn đầu tư. So với khái niệm chứng khoán theo luật chứng khoán hiện nay, xu hướng các nhà làm luật nới rộng việc xác định các loại chứng khoán sẽ hình thành và tồn tại ở nước ta đã rõ ràng. Đặc điểm của chứng khoán Chứng khoán thường mang các đặc điểm sau: Tính sinh lời thể hiện ở việc người phát hành ra chúng phải trả cho người sở hữu chứng khoán khoản lợi tức trong tương lai để nhận về mình quyền sử dụng vốn. Tính sinh lời của chứng khoán là động lực thúc day người đầu tư mua chứng khoán và cũng là tiền đề xuất hiện chứng khoán.
Tính sinh lời còn xuất hiện khi người nắm giữ chứng khoán giao dịch chứng khoán như loại tài sản được phép. Nếu chỉ đừng lại ở tính sinh lời thì cơ hội đầu tư cũng như hiệu quả đầu tư chưa đạt được.Xem: Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán số 62/2010/QH12. Tinh thanh khoản được hiểu là khả năng cho phép người sở hữu chứng khoán có thể bán chứng khoán để nhận được khoản tiền nhất định. Đặc điểm này tạo cho người sở hữu chứng khoán chuyền đổi dạng tài sản từ chứng khoán sang tiền thông qua giao dịch tại thị trường thứ cấp hoặc thông qua nghiệp vụ ngân hàng.
Tính thanh khoản tạo ra sự hấp dẫn đối với người đầu tư, thoả mãn nhu cầu của họ đồng thời cũng hạn chế rủi ro làm giảm sút giá trị tiền tệ của chứng khoán. Tính thanh khoản của chứng khoán phụ thuộc vào uy tin của chủ thé phát hành, vào chi phí chuyên đổi và sự biến động của thị trường. Tính rủi ro của chứng khoán, thé hiện ngay ở bản chất của hoạt động đầu tư vốn. Cũng như bất kì hoạt động đầu tư, kinh doanh nào khác, việc kinh doanh chứng khoán là "đầu tư lượng tiền trong hiện tại và chỉ có thé thu hồi trong tương lai" thì cả quãng thời gian đó cũng chính là thời gian chứa đựng rủi ro.
Mức độ rủi ro tiềm tàng đến đâu còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, như thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn cùng các cam kết khác chính là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới độ rủi ro. Mức độ rủi ro của chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với tính sinh lời và tính thanh khoản của chứng khoán. Bản chất chứng khoán Chứng khoán xuất hiện do nhu cầu của các giao dịch vốn giữa các chủ thé. Bên cạnh đó, chứng khoán cũng liên quan đến việc hưởng lợi của "người" đang nam giữ chúng.
Vì vậy, cần phải xem xét bản chất chứng khoán đưới góc độ kinh tế và dưới góc độ pháp li. Theo phương diện kinh tế, chứng khoán được coi là loại "tw bản giả". Điều này có nghĩa, lượng vốn (tư bản thật) đã được nhà đầu tư (người nắm giữ chứng khoán) chuyên cho các tổ chức phát hành và họ chỉ nắm giữ những phương tiện thể hiện có một lượng 10 tư bản đang ton tại thực tế mà thôi. Xác định chứng khoán là "tư bản giả" cũng có nghĩa, các nguồn vốn được tích tụ tập trung bởi các nhà phát hành đều hướng tới mục tiêu đầu tư, mục tiêu kinh tế nhất định; điều này hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc hoạt động tài chính của các chủ thể trong xã hội đương đại cũng như trong các thời kì trước đây.
Theo phương diện pháp lí, chứng khoán là loại tài sản với day du đặc tinh của nó. Từ khi xuất hiện, do tự phát hay tự giác, chứng khoán đã được công nhận là một loại tài sản, với những đặc điểm là "giấy tờ có giá". Người sở hữu chứng khoán có thê chuyển nhượng, kiếm lợi, tặng cho. chứng khoán như bat kì loại tài sản nào khác.
Điều này không mâu thuẫn với việc có những loại chứng khoán, khả năng được sở hữu, chuyên nhượng bị hạn chế, cũng giống như bất kì loại tài sản nào, trong những trường hợp đặc biệt, việc sở hữu, chuyên nhượng, kế cả các tai sản hữu hình cũng có hạn chế nhất định. Bên cạnh đó, Điều 163 Bộ luật dân sự quy định rõ: "tdi sản bao gỗm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyên tài san" đồng thời Điều 321 Bộ luật dân sự xác định giấy tờ có giá gồm "trdi phiếu, cổ phiếu, kì phiếu và các giấy tờ có giá khác. Với những quyền năng và quy định của pháp luật nêu trên, chứng khoán được khang dinh 1a loai tai san. Việc xác định bản chất của chứng khoán có ý nghĩa pháp lí quan trọng.
Ở góc độ pháp lí kinh tế, các đối tượng có liên quan sẽ quan tâm tới hiệu quả việc vận hành các nguồn tư bản thật dé quyết định có tiếp tục hay không việc nắm giữ các tư bản giả, đầu tư lượng tư bản của mình vào tổ chức phát hành nào là hữu ích. Dưới góc độ pháp lí, xác định chứng khoán là tài sản cũng đồng nghĩa với việc áp dụng các chế độ tài sản và các chế định có liên quan đối với đối tượng này cho phù hợp. Phân loại chứng khoản Căn cứ vào quyên của người sở hữu chứng khoán đối với người phát hành, chứng khoán bao gồm hai loại: chứng khoán vốn và chứng khoán nợ. Chứng khoán vốn là loại chứng khoán xác nhận sự góp vốn và quyền liên quan đến phần vốn góp của chủ sở hữu chứng khoán đối với đối tượng phát hành ra nó.
Loại chứng khoán này có đặc điểm nhà đầu tư không xác định được thời gian thu hồi vốn, mức thu nhập từ việc đầu tư nhưng lại có cơ hội tham gia vào kiểm soát hoặc trực tiếp kinh doanh phần vốn đã thu hút. Chứng khoán vốn tồn tại dưới hai dang cơ bản là cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư. Ngoài ra còn có các chứng khoán phái sinh từ loại chứng khoán vốn như chứng quyên. Cổ phiếu (stock, share) là loại chứng khoán xác nhận số cô phan mà cổ đông đó nắm giữ tại một công ti cỗ phan và quyền được hưởng một phần lợi nhuận dưới hình thức cổ tức cũng như quyền tham gia quản lí công ti.
Cổ phần là phần lợi ích sở hữu của cô đông đối với tô chức phát hành. Cổ phần trong công tỉ rất da dạng về thé loại và tính chuyển nhượng. Cổ phần phố thông (common stock) không quy định trước về cô tức mà cổ đông có thé được hưởng và gan liền với kết quả kinh doanh của công ti nhưng cô đông nắm giữ lại được hưởng đầy đủ quyên và lợi ích so với các loại cổ phần khác. Cổ phan ưu đãi (preference stock) xác nhận một số ưu đãi (về tài chính, về một số quyền ưu tiên khác) đồng thời cũng chịu những hạn chế nhất định về quản lí công tỉ.
Do nội dung ưu đãi khác nhau nên cũng hình thành nhiều loại cô phiếu ưu đãi khác nhau như cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi biéu quyết.