Mở đầu bộ luật in lời Tựa của đương kim Hoang đế Gia Long khẳng định tư tưởng chính trị pháp lí cơ bản của triều Nguyễn là: “Thánh nhân cai tri thiên hạ déu dùng luật pháp để xử tội dùng đạo đức để giáo hoá họ, hai điều ấy không thiên bên nào bỏ bên nào” "pháp luật là công cụ giúp cho việc cai trị thêm tốt đẹp". Tiếp sau là Tổng mục về luật, lệ của vua Việt Nam. Phần Danh lệ và Bản điều được sắp xếp như sau: - Quyển 1, 2, 3: Ghi mục lục về luật các biểu đồ giá chuộc; năm hình phạt, nguồn gốc, ý nghĩa của hình phạt; đồ hình cụ, tang chế. Giải thích một số điểm trọng yếu của luật, cách xử lí tài sản bất hợp pháp.
Danh lệ về thập ác và chủ yếu là những điều luật quy định về nguyên tắc chung (45 điều). - Quyển 4, 5: Luật Lại, quy định về chức chế và công vụ (27 điều). - Quyển 6, 7, 8: Luật Hộ, quy định về hộ tịch, điền trạch, đăng bạ, của cải, thuế điền thổ, trốn thuế. Điều chỉnh về hôn nhân, thu chi, cho vay, chợ, cửa hàng (66 điều).
- Quyển 9: Luật Lễ, quy định về lễ nghi triều đình, tế tự, lăng tam, nhà cửa, y phục (26 điều). - Quyển 10, 11: Luật Binh, chủ yếu nhằm bảo vệ nhà vua, cung cấm, điều chỉnh lĩnh vực quân sự, kiểm soát lưu thông, vấn đề biên giới, lưu chuyển công văn, trạm dịch (58 điều). - Quyển 12 đến quyển 20: Luật Hình (bao gồm cả hình sự và tố tụng), quy định về các nhóm tội phạm cụ thể và thủ tục khiếu tố kiện 285 tụng, xét xử, giam giữ, thi hành án (166 điều). - Quyển 21: Luật Công, chủ yếu quy định về những vi phạm trong lĩnh vực xây dựng các công trình công cộng, kho chứa, đê điều, cầu đường (10 điều).
- Quyển 22: Ghi mục lục Tổng loại và Tỉ dẫn điều luật. Trong quyển này các nhà làm luật dự liệu 30 trường hợp so sánh để áp dụng tương tự. * Cấu trúc các điều luật: Thông thường, điều luật thường có cấu trúc: Tên tội, điều luật, giải thích, điều lệ; một số điều còn có thêm phần tập chú. Tuy nhiên, không phải điều nào cũng có cấu trúc đó.
Trong bộ luật có 204 điều có phần điều lệ, tổng số các điều lệ là 560. Điều luật có nhiều điều lệ nhất là 18 và ít nhất là 1. Một số điều chỉ có điều luật chính, không có phần giải thích và điều lệ. Ví dụ, Điều 2 “Tháp ác tội"; Điều 3 “Bát nghị" và một số điều trong Lễ luật, Binh luật (Điều 141 đến Điều 206).
Các điều luật này thường là những quy định chung mang tính nguyên tắc hoặc nghi lễ, mệnh lệnh không thể thay đổi nên miễn bình luận, giải thích, bổ sung. Một số điều không có phần giải thích nhưng vẫn có điều lệ kèm theo (các điều 140, 143, 144, 145). Các điều luật này chủ yếu liên quan đến việc thờ cúng, lễ nghi hoặc quân sự. Một số điều có giải thích nhưng không có điều lệ (các điều 4, 7, 9, 10, 367).
Các điều luật này thường là những quy định mang tính công quyền hoặc liên quan đến chính sách chung của Nhà nước. Tổng số điều luật không có phần giải thích là 70/398. Số điều luật không có điều lệ là 194/398. * Tap chú: La phần chữ in nhỏ nhất trên phần đầu của trang giấy, chú thích về từ ngữ, phân biệt khái niệm, hoặc giải thích chi tiết điều luật hoặc nói về một bản án in trong điều lệ liên quan đến bao nhiêu điều luật chính.
Vi du, phần tập chú cho Điều 2 giải thích thêm về cội nguồn tự nhiên, xã hội, đạo đức và mối liên hệ giữa Ngũ hình và Thập ác. Số liệu này được làm tròn, vì còn thiếu 2 điều 176, 373. Điều 176: cấm sung vào quân túc vệ (mất đoạn này); Điều 373: người ở tù vu cáo, chỉ trỏ người khác. Về hiệu lực Bộ luật có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Dai Nam từ 1815 đến 1883, điều chỉnh mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế-xã hội.
Từ sau 1884, bộ Hoàng Việt luật lệ mất hiệu lực từng phần dưới sự tác động của chính quyền và luật pháp thực dân. Nội dung bộ Hoàng Việt luật lệ a. Những quy định trong lĩnh vực hình sự Nội dung pháp luật hình sự chủ yếu được trình bày từ Quyển 1 đến Quyển 3 và Quyển 12 đến Quyển 18. * Hình phạt Được trình bày khái quát trong Danh lệ, Điều I và được quy định cụ thể, chi tiết trong hầu hết các điều của Hoàng Việt luật lệ.
So với bộ Quốc triều hình luật triều Lê, hình phat trong Hoàng Việt luật lệ có tính hà khắc hơn. Hình phat bao gồm Nei hình va các hình phat ngoài ngũ hình: -Ngũ hình: + Xuy hình (đánh bằng roi): Có 5 bậc, từ 10 đến 50 roi, mỗi bậc tăng 10 roi. + Truong hình (đánh bằng gay): Có 5 bậc, từ 60 đến 100 trượng, mỗi bậc tăng 10 trượng. Ngoài các tội thập ác, phụ nữ phạm tội thông gian, trộm cắp có thể đổi trượng sang xuy, cứ một trượng đổi thành 2 xuy.
+ Đồ hình (tù khổ sai): Có 5 bậc: 1 năm với 60 trượng; 1,5 năm với 70 trượng; 2 năm với 80 truong; 2,5 năm với 90 trượng; 3 năm với 100 trượng. Đồ được áp dụng cho trường hợp phạm tội tương đối nặng. Cho gửi phạm nhân về quản thúc nơi trấn họ ở, bắt phải làm mọi việc nặng nhọc từ 1 đến 3 năm thì chấm dứt. Suốt thời kì chấp hành hình phạt, họ bị xiéng chân.
Phép “Nhuận đồ”: Đối với một số tội, luật Gia Long cho đổi từ 3 bậc lưu sang 4 năm đồ; Tạp phạm bị treo cổ, chém đổi sang 5 năm đồ. + Lưu hình (đi day): Có 3 bậc: 2000 dặm với 100 trượng; 2500 287 dặm với 100 trượng; 3000 dặm với 100 trượng. Lưu được áp dụng cho phạm nhân tội dù nặng nhưng chưa đáng phải chết. Họ bị lưu đày vĩnh viễn nơi xa, cả đời không được trở về cố hương.
Phạm nhân có thể đem theo vợ con, gia đình. Tại nơi lưu đày, họ được cấp đất, trâu cày và công cụ để tự lao động cải tạo. Hoàng Việt luật lệ còn quy định về phép "Nhuận tử" (chết 2 lần) bao gồm: Lăng trì (xẻo chậm); Trảm kiêu (chém bêu đầu) và Lục thi (chặt xác chết). - Hình phạt ngoài ngũ hình: + Phạt tiền: Không có điều khoản riêng quy định về hình phạt tiền.
Phạt tiền chỉ áp dụng trong một số trường hợp cá biệt (9 điều). + Xâm chữ (trên mặt hoặc trên cánh tay): Chủ yếu áp dụng đối với tội trộm cắp. Trộm thường bị xâm chữ “ăn trộm” (Điều 238), trộm đặc biệt xâm 3 chữ “trộm đồ quan”. Tội hối lộ xâm chữ “đồ phạm”, tội đào mồ mả xâm chữ “đào mả”, “trộm hòm”.
Bạo trộm thì xâm trên mặt 2 chữ “bạo trộm”, bọn cướp bè đảng, đánh bạc thì xâm tay mặt phía trên 4 chữ “giặc dụ đánh bạc”. + Mang gong, xiéng: Hình phạt này thường được áp dụng bổ sung cho tội phạm bị xử đồ, lưu, tử (Danh lệ, điều 239, 240). + Tịch thu tài sản: Luật cho phép tịch thu toàn bộ gia sản sung công trong trường hợp mưu phản, đại nghịch (các điều 223, 224). Cũng có thể tịch thu một phần gia sản để bồi thường thiệt hại hoặc cấp dưỡng cho nạn nhân bị đánh thành thương (các điều 286, 287).
Trường hợp không có gia sản thì tâu lên vua định đoạt. + Sung vợ con làm nô tì: Đây là hình phạt bổ sung cho loại tội đặc biệt nghiêm trọng xâm hại đến an ninh quốc gia như tội mưu phản đại nghịch (các điều 223, 224). + Giáng phẩm trật, bãi chức, thuyên chuyển công tác: Là hình phạt bổ sung cho tội phạm là quan chức (các điều 314, 374). * Những nguyên tắc cơ bản 288 Những nguyên tắc của Hoàng Việt luật lệ chủ yếu được trình bày trong phần Danh lệ, gồm 9 nguyên tắc cơ bản sau: - Nguyên tắc luật định (pháp căn, vô luật bất hình): La nguyên tắc cơ bản nhất để xác định thế nào là một hành vi phạm tội.
Điều 380 quy định: "Pham quan ti khi xử tội déu phải dan đủ luật lệ. Ai trái thì bị phạt 30 roi”. Các quan xử án có nghĩa vụ phải tuân theo điều luật và các điều lệ trong bộ luật. Luật nghiêm cấm sử dụng các bản án chưa được biên vào bộ luật làm mẫu mực để xét xử.
Nếu thấy bản án nào có tính điển hình cho phép gửi bản trình lên Bộ Hình xem xét, sau thỉnh lên vua xem làm Định Lệ (các điều 233, 237). Nếu theo lệnh đặc biệt của vua thì tạm thời xử trị nhưng không được viện dẫn để xét xử các việc khác. Trường hợp không có luật quy định mà có lệnh vua cấm ngăn thì theo lệnh mà xử. Bộ luật còn dự liệu trường hợp "bất ưng vi".
Theo Điều 351: “Phàm không nên làm mà làm thì phạt 50 roi, sự lí nặng thì phạt 80 trượng”. - Nguyên tắc so sánh luật (còn gọi là tỉ dẫn điều luật): Trong phần Danh lệ, Điều 43 quy định: “Nếu xứ tội không có điều chính xác thì người ta viện dân ở luật khác với việc đồng hóa và so sánh". Theo quy định, chỉ được dẫn điều nào thích hợp trực tiếp đến tội phạm. Một điều chỉ dùng để xử cho một việc.
Không được tự ý cắt giảm để đến nỗi tội bị thêm, bớt. Nếu đưa đến tội nặng nhẹ, pháp quan bị ngưng chức và bị xử phạt nặng. Các quan khi xử án phải trình bày rõ tình tiết vi phạm và các điều luật được áp dụng so sánh. Các vụ việc áp dụng nguyên tắc này đều phải làm báo cáo lên Bộ hình xét nghị tội danh và viết sớ tâu lên Hoàng đế.
Quy chế này nhằm tránh sự sai sót nhầm lẫn của các quan xét xử. Quyển 22 có 30 điều luật so sánh, trong đó 17/30 điều liên quan đến hôn nhân và gia đình, 5 điều liên quan đến giặc trộm và nhân mạng, 5 điều liên quan đến nghi lễ và ân nghĩa của con người. Nguyên tắc này có giá trị bổ sung cho nguyên tac pháp căn. - Nguyên tắc xét xử theo luật mới: Điều 42 quy định "phàm luật bắt đầu áp dụng là từ ngày ban xuống.
Nếu phạm tội trước đó, y luật mới mà xử”. Cá biệt có thể xử theo luật cũ theo tinh thần khoan hồng, 289 giảm nhẹ, có lợi cho tội nhân đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước thời điểm luật mới ban hành: “Như việc phạm lúc chưa định lệ thì vẫn y luật và các lệ đã thi hành mà xử" (Điều 42).