CHƯƠNG 1 Sa LỊCH SỬ KINH TẾ CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA 1. SỰ RA ĐỜI PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA 1. Những nhân tố tác động đến sự ra đời phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Trong tiến trình phát triển của phương thức sản xuất phong kiến đã xuất hiện những nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự xuất hiện phương thức sản xuất TBN. Dưới đây là một số nhân tố cơ bản: 1.
Sự phân công triệt để giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp Trong các lãnh địa phong kiến, do không còn như thời nô lệ, người nông dân đã được tự do nên nhiệt tình lao động hơn, nhờ vậy sản xuất nông nghiệp cũng phát triển hơn. Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp đòi hỏi cần có sự hỗ trợ của thủ công nghiệp về công cụ, phương tiện làm đất, thu hoạch, chế biến, bảo quản. làm cho thủ công nghiệp từ chỗ chỉ là một nghề phụ gắn liền với nông nghiệp dần tách ra thành một ngành riêng. Mặt khác, để phục vụ cho những nhu cầu xa xỉ của vua chúa phong kiến như xây dựng lăng tẩm, lâu đài.
rất nhiều nghề thủ công nghiệp phát triển. Sự phát triển các ngành nghề thủ công tạo tiền để hình thành các công xưởng mang tính chất TBCN. Sự phát triển các thành thị phong kiến Thành thị phong kiến là những đô thị tự do không chịu sự khống chế của các lãnh chúa phong kiến, trong đó ngoài thủ công nghiệp là ngành kinh tế chính thì các ngành thương nghiệp, cho vay lấy lãi cũng phát triển. Trong các thành thị phong kiến, lúc đầu, các thợ thủ công vừa là người sản xuất vừa là người bán sản phẩm.
Khi sản xuất phát triển hơn, thị trường mở rộng hơn thì xuất hiện những thương nhân chuyên đi bán hàng hoá, mua nguyên vật liệu cung cấp cho các xưởng sản xuất. Thương nhân hợp thành từng đoàn đi khắp các châu lục Âu, Á để bán hàng. Trên đường đi, họ dừng chân trao đổi hàng hoá với nhau ở một số địa điểm gọi là hội chợ. Hội chợ đầu tiên trên thế giới là Hội chợ Sămpanhơ (Pháp).
Khi mang hàng đi bán, thương nhân cần nhiều tiền để mua hàng từ đó hình thành 12 tầng lớp chuyên cho vay. Thương nhân giàu có trở thành những nhân vật trung tâm trong các đô thị phong kiến. Thừa tiền, họ đứng ra tổ chức xưởng thợ, thuê nhân công tự sản xuất ra hàng hoá để mang đi bán. Đây chính là mầm mống quan hệ sản xuất TBCN được hình thành ở một số thành phố ven bờ Địa Trung Hải vào thế kỉ XIV - XV nhưng thời đại của quan hệ sản xuất TBCN chỉ bắt đầu từ thế kỉ XVI gắn liền với nhiều điều kiện mới.
Những phát kiến địa lí Thế kỉ XII - XIV, nhu cầu mở rộng thị trường buôn bán quốc tế và giải quyết tình trạng khan hiếm vàng ở các nước Tây Âu không được đáp ứng do các con đường giao lưu buôn bán giữa Đông và Tây bị chặn lại. Các cuộc chinh phục của đế quốc Thổ Nhĩ Kì đã làm khủng hoảng nền thương nghiệp Địa Trung Hải vốn giàu có trước kia, còn quá trình phân lập của đế quốc Mông Cổ đã làm ách tắc con đường bộ giao lưu giữa Tây Âu với Trung Quốc, Ấn Độ. Để giải quyết vấn dé này cần tìm ra con đường mới đến phương Đông. Công việc này được các nhà hàng hải và các đoàn thuỷ thủ dũng cảm của họ thực hiện.
Năm 1492, Christopher Colombus tổ chức đoàn thám hiểm gồm 3 tàu và 90 người rời cảng Palôxơ (Tây Ban Nha) đi về phía tây. Sau 3 tháng, họ đã tìm ra vùng đất mới sau này gọi là châu MI. Năm 1496, Vasco da Gama cùng đoàn thám hiểm gồm 3 tàu và 160 người rời Lixbon (Bổ Đào Nha) tiến về phía đông. Họ đi sâu vào lục địa châu Phi, đến được Ấn Độ, tìm ra con đường biển mới từ phương Tây đến các nước phương Đông.
Năm 1519, Ferdinand Magellan cùng đoàn thám hiểm gồm 5 tàu và 256 người rời cửa sông Guadanquivira bắt đầu cuộc hành trình vòng quanh thế giới. Ngày 06/9/1521, 18 người còn sống sót đã trở về bờ biển Tây Ban Nha. Lần đầu tiên Magellan cùng đoàn thám hiểm đã đi được vòng quanh thế giới, chứng minh việc có thể đi buôn bán bất cứ nơi đâu, đến bất cứ nơi nào. Những phát kiến địa lí nói trên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ra đời của CNTB.
Việc tìm ra những con đường biển đến phương Đông và các vùng đất mới đã mở rộng địa bàn buôn bán quốc tế và bắt đầu hình thành thị trường thế giới. Từ những vùng đất mới này, lượng vàng bạc đem về châu Âu ngày càng nhiều khiến cuộc cách mạng giá cả ở các nước này kéo dài hàng trăm năm. Giá cả tăng lên nhanh chóng đã giáng đòn chí mạng vào nền kinh tế vốn đã kiệt quệ của giai cấp địa chủ phong kiến, đồng thời giúp cho các nhà tư sản đang hình thành ngày càng giàu có thêm. Bên cạnh đó, sau những đợt thám hiểm thành công, 13 chế độ thuộc địa bắt đầu hình thành trên thế giới với hai đế quốc thuộc địa đầu tiên là Tây Ban Nha và Bổ Đào Nha.
Bản anh hùng ca của các phát kiến địa lí vĩ đại đã mở ra thời đại tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản, tạo tiền để trực tiếp cho sự ra đời của CNTB. Tích luỹ nguyên thuỷ tư bản Để CNTB ra đời phải hội đủ hai yếu tố đó là người lao động bị tước hết TLSX ngày càng nhiều và nguồn vốn ngày càng tập trung vào một số ít người. Những yếu tố đó nếu chỉ chờ tác động tự phát của quy luật kinh tế thì rất chậm chạp. Trong lịch sử, giai cấp tư sản khi mới ra đời đã dùng mọi thủ đoạn bạo lực đã man và tàn bạo nhằm thúc đẩy sự ra đời nhanh chóng phương thức sản xuất TBCN.
Tích luỹ nguyên thuỷ tư bản thực chất là quá trình dùng bạo lực để tách người sản xuất ra khỏi tư liệu sản xuất, tạo ra nguồn vốn và lao động làm thuê cho CNTB. Những biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ là dùng bạo lực để tách người lao động ra khỏi TLSX, chiếm đất đai của nông dân, chiếm đoạt ruộng đất công, chế độ bảo hộ thuế quan. Tuy nhiên, quá trình tích luỹ nguyên thuỷ của mỗi nước diễn ra trong những thời điểm khác nhau với những điểm riêng biệt. Anh là nước có quá trình tích luỹ nguyên thuỷ tư bản điển hình nhất với những biện pháp như đuổi nông dân khỏi ruộng đất của họ, xâm chiếm thuộc địa ở châu Mi, buôn bán nô lệ và cướp biển, thực hiện chế độ bảo hộ công nghiệp, độc quyển ngoại thương.
Bằng những biện pháp đó, đến cuối thế kỉ XVI, tu ban Anh đã tích luỹ được một số vốn lớn và tạo ra một nguồn lao động làm thuê khá lớn. Quá trình tích luy nguyên thuỷ tư bản ở Pháp diễn ra cham chap hon so với nước Anh. Việc tách nông dân ra khỏi ruộng đất không dùng bạo lực trực tiếp như ở nước Anh mà thông qua biện pháp gián tiếp là đánh thuế cao làm cho nông dân bị phá sản. Nhà nước quân chủ Pháp can thiệp nhiều vào quá trình tích nguyên thuỷ tư bản như: trợ cấp vốn cho tư nhân xây dựng các công trường thủ công, nhà nước trực tiếp xây dựng một số công trường thủ công rồi cho thuê hoặc bán cho tư nhân, đồng thời nhà nước áp dụng triệt để chế độ bảo hộ công nghiệp.
Nhìn chung, quá trình tích luỹ nguyên thuỷ tư bản diễn ra ở nhiều nước khác nhau với mức độ và thời gian khác nhau, góp phần tạo ra thị trường lao động, tạo ra tư bản đầu tư vào công nghiệp và thị trường nội địa cho nền công nghiệp ở mỗi nước. Phát triển kĩ thuật trong các thế kỉ XV - XVI Có rất nhiều tiến bộ kĩ thuật mới đặc biệt là về năng lượng và luyện kim vào thé ki XV - XVI. Thế kỉ XV có hai phát kiến trong lĩnh vực năng lượng là sử dụng sức gió và sức nước trong nhiều ngành sản xuất như xay bột, khai thác than, luyện kim. Việc sử dụng nguồn động lực mạnh hơn trong luyện kim đã giữ được _ nhiệt độ cao liên tục cho phép luyện được những mẻ kim loại lỏng đúc ra những công cụ mà người ta mong muốn.
Nhu cầu về kim loại tăng lên đòi hỏi phải thay đổi phương pháp chế biến để tạo ra kim loại có chất lượng cao hơn. Người ta đã bắt đầu dùng những loại búa đơn giản, máy bào, gọt, mài thô sơ để chế biến kim loại. Thị trường mở rộng, vốn và lao động ngày càng tăng, cơ sở kĩ thuật được cải tiến đã tạo điều kiện cho các công trường thủ công TBCN mọc lên ngày càng nhiều. Như vậy, lực lượng sản xuất đã phát triển khá cao trong lòng xã hội phong kiến, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cũ trở nên sâu sắc hơn.
Từ thế kỉ XVI trở đi, nhu cầu khách quan phải xoá bỏ chế độ phong kiến và thiết lập quan hệ sản xuất TBCN ở châu Âu ngày càng chín mudi. Cách mạng tư sản và sự thiết lập quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới với quan hệ sản xuất phong kiến đã dẫn đến những cuộc cách mạng tư sản nhằm lật đổ chế độ phong kiến do giai cấp tư sản lãnh đạo. Cuộc cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới nổ ra ở Hà Lan năm 1564, tiếp đến là các cuộc cách mạng tư sản ở Anh (1642 - 1660), ở Pháp (1789 — 1794), ở Đức (1848), ở Mĩ (1861 — 1865), ở Nga (1861), ở Nhật (1868), Trung Quốc '(1911). Cách mạng tư sản thành công là dấu mốc quan trọng khẳng định sự khởi đầu phương thức sản xuất TBCN ở mỗi nước.
Đến cuối thế kỉ XIX, CNTB đã hình thành và phát triển ở nhiều nước trên thế giới. THỜI KÌ TRƯỚC ĐỘC QUYỀN (1640 - 1870) — Các cuộc cách mạng tư sản đánh dấu sự ra đời của CNTB về mặt pháp lí. Nó đã thủ tiêu các trở ngại phong kiến, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, mở ra các cuộc cách mạng công nghiệp và công nghiệp hoá ở mỗi nước. Nói cách khác, tất cả các nước tư bản sau khi tiến hành cách mạng tư sản, thiết lập nên nhà nước tư sản đều phải tiến hành cách mạng công nghiệp - thực chất là tiến hành công nghiệp hoá TBCN để tạo ra cơ sở vật chất kĩ thuật của CNTB.