đặt vấn đề cho thuyết xung đột: vấn đề không chỉ còn là sự phá vỡ những « cầu trúc xã hội đang tn tại thông qua xung đột. 292 Chương 12 Kỹ năng quản TÚ xung đột - Theo lý thuyết xung đột hiện đại như Dahrendort (1959) và Colins (1975; 1979) xác định xung đột không chỉ đơn giản dựa trên. đâu tranh giai cấp và những căng thing giữa chủ và công nhân hoặc người sử dụng lao động, mà còn xuất hiện trong rất nhiều nhóm khác nữa. - Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia”: “Xung đột có thể hiểu là sự đối lập về những như cầu, giá trị và lợi ích”.
Như vậy, một cách,khái quát, xung đột làquá trình trong đó một bên nhận ra rằng quyền lợi của mình hoặc đối lập hoặc bị ảnh hưởng tiêu cực bởi một bên khác. Trên cơ sở tham kháo các quan điểm về xung đột ở trên ta có thể xem xét bản chất trong từng trường hợp có thể hiểu: Xung đột là qua trình trong đó một bên nhận ra rằng quyên lợi của mình hoặc đổi lập hoặc bị ảnh hưởng tiêu cực bởi một bên khác. Xung đột có thể mang đến những kết quả tiêu cực hay tích cực, phụ thuộc vào bản chất, cường độ của xung đột và cách giải quyết xung đội. Xung đột có thể giúp giải thích nhiều mặt của xã hội như sự bất đồng xã hội, những xung đột về lợi ích, những cuộc đâu tranh giữa các cá nhân, nhóm và các tổ chức.
Xung đột là sự đối đầu phát sinh từ sự không nhất trí đo các bên có mục tiêu tư tưởng hay tình cảm có mục tiêu trái ngược nhau. Nếu không có sự điều hòa và giải pháp thỏa đáng, xung đột có thể đẫn đến stress hay căng thắng giữa những cá nhân hay nhóm người liên quan. Nhe vậy, xung đột có thể là xung đột với nhau về mục tiêu loi ich, về nhận thức và về tình cảm, Có thé xem đây là một khái niệm đầy đủ về nội hàm, nêu lên được các loại hình xung đột thường xảy ra trong cuộc sống xã hội con người. Theo quan điểm các mối quan hệ tương tác có ảnh hưởng to lớn đến sự tồn tại và hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Do đó để * * Kỹ năng giao tiếp kinh doanh 293 quản lý xung đột hiệu quả là năng lực quản lý chủ chốt bốn loại tương tác có thể là: - Vô tư: không nghĩ đến lợi ích riêng tư. Sự giúp đỡ hào hiệp, vô tư. ~ Hợp tác: sự hợp tác là cùng nhau cùng làm việc vì mục tiêu chung hoặc hai bên cùng có lợi; - Cạnh tranh: sự cạnh tranh xáy ra khi hai hay nhiều cá nhân hoặc nhóm theo đuôi cùng mục tiêu; : - Xung đột: sự xung đột xảy ra khi một bên nhận thức rằng phía bên kia phá hủy, chống lại những nỗ lực đạt kết quả mong muốn của phía khác. Nói cách khác, xung đột có tổn tại hay không là một vấn đề nhận thức.
Nếu không ai nhận thấy xung đột, thì nhìn chung mọi người đồng ý rằng không có xung đột nào xuất hiện. : Xung đột là kết cục xảy ra khi giữa hai hay nhiều phía t trong quá trình theo đuôi mục tiêu đã đưa ra những hành động kiông tương dong và phía này cố gắng ngăn chặn hoặc cản trở những nỗ lực của phía khác. : Xung đột là tắt-yếu trong các tổ chức, nó có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả làm việc của tổ chức tùy thuộc vào: bản chất của xung đột và cách thức xử lý xung đột. Xung đột có thể mang đến những kết quả tiêu cực hoặc tích cực, phụ thuộc vào bản chất và cường độ của xung đột và vào cách giải quyết xung đội.
Nếu được giải quyết tốt, xung đột sẽ đem lại các điểm tích cực như: - Nâng cao sự hiểu biết và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm; - Nâng cao khả năng phối hợp nhóm thông qua việc ‘thio luận, thương thảo khi giải quyết mâu thuẫn; 294 Chương 12 Kỹ năng quản lú xung đột - Nâng cao hiểu biết của từng thành viên về các mục tiêu của mình, biết được đâu là những mục tiêu quan trọng nhất. Ngược lại, xung đột không được xử lý tốt sẽ gây ra sức tàn phá lớn: mâu thuẫn trong công việc đễ đảng chuyển thành mâu thuẫn cá nhân, tỉnh thần làm việc nhóm tan rã, tài nguyên bị lãng phí v. Phân loại xung đột và cấp độ xung đột 12. Phân loại theo tính chất lợi hại Giải quyết xung đột và mâu thuẫn sao cho ổn thỏa là công việc mà các nhà quan lý phải đành 21% thời gian trong tuần để giải quyết các xung đột có lợi, có hại cho sự phát triển của đoanh nghiệp.
: Xung đột có lợi: xung đột và mâu thuẫn có lợi trong một doanh nghiệp khi nó xuất phát từ những bất đồng về năng lực. Khi có quá ít xung đột và mâu thuẫn cũng là bất lợi, vì người ta trở nên tự mãn. Khi đó sẽ có tất it hoặc chẳng có chút sáng tạo nào. Là nhà quản lý, bạn cẦn phải biết phân biệt các xung đột và mâu thuẫn giữa các cá nhân, giữa các nhóm, giữa các tỗ chức.
Xung đột có hại: theo các chuyên gia, xung đột và mâu thuẫn có hại là về tình cảm và liên quan đến việc không hợp nhau nhưng mang tính tàn phá. Đây là bản chất dẫn tới nhiều khả năng thất bại khi giải quyết các xung đột này. Phân loại theo chức năng - Xung đột chức năng: là sự đối đầu giữa hai phía mà sự đối đầu này hoàn thiện hoặc mang lại lợi ích cho việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức. Những xung đột chức năng có thể dẫn tới việc khám phá ra những cách thức hiệu quả hơn trong việc xây đựng cấu trúc tổ chức, nhận dạng tốt hơn những thay đổi chiến lược cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của tô chức.
** Kỹ năng giao tiếp kinh doanh 295 - Xung đột phi chức năng: là bất kỳ sự tương tác nào giữa hai phía mà nó cản trở hoặc tàn phá việc đạt tới mục tiêu của nhóm hay tổ chức. Trong phần lớn các tổ chức, những cuộc xung đột thường xảy ra nhiều hơn mức độ mong muốn, vì thế việc thực hiện nhiệm vụ sẽ trở nên hoàn thiện nếu mức độ xung đột giảm. Khi xung đội. trở nên quá nhiều và căng thẳng thì các nhà quản lý phải cố gắng đề loại trừ loại xung đột nảy.
Xung đột chức năng và xung đột phi chức năng là những xung đột trái cực. Xung đột có lợi có thể biến thành xung đột có hại. Nhìn chung, chúng ta không thể xác định được thời điểm mà xung đột chức năng biến thành xung đột phi chức năng. Phân loại theo bộ phận - Mau thuẫn, xung đột giữa các nhóm: xây ra giữa các nhóm lam việc, hay giữa các phòng ban, bộ phận này với bộ phận kia trong doanh nghiệp.
: ` ~ Mâu thuẫn, xung đột giữa các cá nhân: giữa các nhân viên với nhau, nhân viên cũ và nhân viên mới, nhân viên trẻ và nhân viên già, giữa nhà lãnh đạo, nhà quản lý với nhân viên. - Mâu thuân, xung đột nội tại của một cá nhân: một cá nhân có thể bị mâu thuẫn khi họ gặp phải sự bất ổn trong các vai trò của họ mà cùng lúc họ phải đảm nhận. Chẳng hạn cấp trên của một nhân viên để nghị anh ta chỉ cần làm việc trong giờ làm việc quy định, nhưng có thể sếp của cấp trên nhân viên này lại nghĩ rằng đó là sự thiếu tận tụy và mơng muốn nhân viên làm việc tăng ca nhiều hơn, 12. Phân loại theo cấp độ xung đột Trong các tổ chức, xung đột bên trong và giữa các nhóm là phổ biến.
Qua xung đột, chúng †a thầy được một sự khác biệt về nhận thức giữa hai hay nhiều bên đẫn đến sự đối lập nhau và có 296 Chương 12 Kỹ năng quản Lý xung đột thể xây ra ở ba cấp độ: giữa các cá nhân; giữa cá nhân và tổ chức và giữa các nhóm tổ chức. Một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột là do nhận thức, vai trò của con người thay đôi khi con người trưởng thành, đi từ: : - Tình trạng bị động thời thơ ấu đến hoạt động của người trưởng thành ngày càng gia tăng; - Tinh trang phy thuộc đến độc lập; - Ít biết cư xử đến có nhiều cách cư xử khác nhau; - Quan tâm đến những vẫn đề một cách nông cạn, cầu thả, thất thường đến sâu sắc hơn; - Có cái nhìn thiển cận (hành vi quyết định bởi những sự kiện hiện tại) đến cái nhìn bao quát hơn (hành vi được quyết định bởi các sự kiện trong quá khứ, hiện tại và tương lai);. - Người dưới quyền trở thành thầy dạy hoặc người giám sắt (từ trẻ em đến cha mẹ hoặc từ người đang được huấn luyện thành quản lý); - Những nhận thức nghèo nàn của bản thân đến sự nhận thức sâu sắc hơn và kiểm soát được hành vi như người trưởng thành. Xung đột giữa các cá nhân: là do đụng độ về tính cách, giao tiếp không hiệu quả và các giá trị khác biệt.
Có thể xây ra khí người ta không thích nhau, khi niềm tin không tồn tại và khác nhau trong suy nghĩ về viễn cảnh, Họ cũng có thể mâu thuẫn khi ganh đua một chức vụ hay quyền lợi. Xung đột giữa cá nhân và tỗ chức: vì hiệu quả công việc mà nhân viên bị áp đặt phải sản xuất ra sản phẩm đạt chuẩn đưới sự chuyên môn hóa công việc ngày cảng cao, sự thống nhất nhu cầu và sự chính thức hóa. Chính điều này đã xung đột với nhu cầu phát triển lành mạnh cơ bản của cá nhân. Hệ quả của sự tiêu * 4 Kỹ năng giao tiếp kinh doanh 297 chuẩn hóa trong tô chức là: - Cá nhân có ít quyền hành trong công việc; sự kiểm soát được thực hiện bởi máy móc; - Cá nhân trở nên bị động, phụ thuộc và dưới quyền; - Cá nhân có tầm nhận thức công việc ngắn hạn; - Cá nhân bị giao những công việc lặp đi lp lại đòi hỏi kỹ năng và khả năng ở mức thấp nhất.
Do đó, cấu trúc công việc xung đột với những nhu cầu cơ bản ngày càng tăng của cá nhân. Xung đột trở nên mạnh nhất với: : - Những nhân viên “lão làng”; - Những công việc chuyên môn hóa quá cao; ~ Các quy tắc và thủ tục chính thức; - Những công việc thiếu chặt chẽ và máy móc. Đo đó, xung đột mạnh xảy Ta ở những cấp độ tổ chức thấp hơn, giữa những người lao động chân tay và nhãn viên văn phòng.