Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ HỌC 1. Các nguyên lý của kinh tế học Kinh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu cách thức:mà các cá nhân, các doanh nghiệp, chính phủ và toàn xã hội đưa ra /ựa chọn về sử dụng nguồn lực, trong điều kiện họ phải đối mặt với sự khan hiếm nguồn lực, các động cơ ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn và các hoàn cảnh chỉ phối các lựa chọn của họ. Hai câu hỏi lớn mà kinh tế học nghiên cứu để đưa ra câu trả lời là: - Lựa chọn thế nào để xác định sản xuất hàng hóa và dịch vụ gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? - Khi nào, trong những điều kiện nào thì các lựa chọn dyartrén dong cơ tối da hóa lợi ích cá nhân sẽ đồng thời phù hợp và thỏa mãn điều kiện tối đa hóa lợi ích của toàn xã hội? Một trong những cách tiếp cận tốt nhất để có cái nhìn tổng quát về kinh tế học và suy nghĩ theo cách thức kinh tế là làm quen với 10 nguyên lý của kinh tế học được N.Mankew (2003) đưa ra dưới dạng ba bài học như sau: 1. Bài học thứ nhất: Con người ra quyết định như thế nào? Nền kinh tế thực chất là phản ánh hành vi của các cá nhân trong quá trình sinh tồn của họ.
Những hành vi này thường gắn liền với cách thức ra quyết định của các cá nhân và được chỉ phối bởi 4 nguyễn ly sau: 1.1 Nguyên lý 1: Con người phải đỗi mặt với sự đánh đổi Ngạn ngữ có câu: Mọi thứ đều có gìá của nó. Để có được một thứ nào đó mà chúng ta mong muốn, cần phải hi sinh, từ bỏ một mong muốn khác. Quá trình ra quyết định đòi hỏi phải đánh đổi mục tiêu này để đạt được mục tiêu khác. Với một sinh viên: Trong điều kiện nguồn lực về thời gian có hạn, để có một giờ học tập người sinh viên này phải từ bỏ một giờ đi chơi thăm bạn bè hoặc xem tỉ vi giải trí.
Với một hộ gia-đình: Khi ra quyết định chỉ tiêu với thu nhập hiện có người chủ gia đình đều phải đối mặt với sự đánh đổi. Họ có thé mua quần áo, thực phẩm hay đưa cả gia đình đi nghỉ mát: Họ cũng có thể tiết kiệm một phần thu nhập cho lúc tuổi già hay chỉ tiêu hiện tại eho.eon cái học tập. Như vậy khi quyết định chi tiêu thêm 1000 đồng cho một trong các mục đích trên họ sẽ mắt 1000 đồng để chỉ cho mục đích khác. Với xã hội: Con người phải đối mặt với nhiều sự đánh đổi.
Ví dụ: khi chỉ tiêu cho quốc phòng nhiều nhằm tăng khả năng phòng thủ cho đất nước, chúng ta phải hy sinh nhiều hàng tiêu dùng để nâng cao mức sống. Trong xã hội hiện đại sự đánh đổi quan trọng là giữa môi trường trong sạch và mức thu nhập cao. Với nền kinh tế: Sự đánh đổi quan trọng mà các chính phủ phải đối mặt là sự đánh đổi giữa công bằng và hiệu quả. Hiệu quả có nghĩa là xã hội đạt được kết quả cao nhất từ các nguồn lực khan hiếm.
Công bằng hàm ýý lợi ích thu được từ các nguồn lực đó phải được phân phối công bằng giữa các thành viên trong xã hội. Nói cách khác hiệu quả ám chỉ quy mô của chiếc bánh kinh tế còn công bằng nói lên phương thức chia chiếc bánh đó. Trong thực tế, khi thiết kế các chính sách của chính phủ, hai mục tiêu này thường xung đột với nhau. Chẳng hạn để thành lập các quỹ phúc lợi xã hội nhằm trợ giúp người nghèo chính phủ thực thi chính sách thuế thu nhập tức là lấy đi một phần thu nhập của người giàu để chia cho người nghèo.
Khi đó, mặc dù chính phủ thành công trong:Việc đảm bảo công bằng xã hội nhưng đã gây ra tổn thất nếu xét từ khía cạnh hiệu quả. Việc tái phân phối thu nhập giữa người giàu và người nghèo đã làm giảm phan thưởng cho sự năng động, sáng tạo, dám chịu rủi ro của người giàu. Người ta sẽ sản xuất íthàng hóa hơn, với chất lượng thấp và mẫu mã kém đa dạng hơn. Nói cách khác, khi Chính phủ cố gắng chia chiếc bánh thành những phần đều nhau hơn thì chiếc bánh càng nhỏ lại.
Nguyên lý 2: Chỉ phí của một thứ là những gì mà bạn phải từ bỏ để có được thứ đó Vì phải đối mặt với sự đánh đổi nên khi ra quyết định, con người phải so sánh chỉ phí và lợi ích của các phương thức sử dụng nguồn lực khác nhau. Song trong nhiều trường hợp chỉ phí của một số hành động không pHải lúc nào cũng biểu hiện rõ. Chẳng hạn, khi quyết định hoc dai học bận nhận được lợi ích và phải chỉ phí như thế nào? - Lợi ích của đi học là tăng thêm kiến thức và có được cơ hội có việc làm tốt hơn với thu nhập và vị trí cao hơn. - Chỉ phí của việc học bao gồm ehï'phí ăn, chỉ phí thuê nhà, chỉ phí sách, bút, học phí.
nhưng như thế chưa đầy đủ, khoản chỉ phí lớn nhất của việc học đại học là thời gian của bạn. Bởi vì, khi dành 1 năm để đi học đại học (nghe giảng trên lớp, làm bài tập, tiểu luận, thực tập.) bạn không thể dùng thời gian này để làm một việc khác, nó có thể là khoản tiền lương mà bạn phải từ bỏ để học đại học, là khoản chỉ phí lớn nhất cho việc đi học đại học eủa-bạn: Vì khi học đại học bạn đã bỏ lỡ cơ hội để kiếm một khoản thu nhập nào đó. Như vậy, chỉ phí cơ hội của một thứ gì đó là toàn bộ những thứ mà bạn phải từ bỏ để có được nó. Tfên fhục \é; thường có nhiều lựa chọn cách sử dụng nguồn lực khác nhau, nên chí phí cơ hội được đo bằng giá trị của cơ hội tốt nhất đã bị bỏ qua.
Khi đưa ra 1 quyết định hoặc hành động nào đó, người ra quyết định phải dựa vào chỉ phí cơ hội của quyết định đó. Nguyên lý 3: Con người hành động hợp lý khi suy nghĩ tại điểm cận biên Các nhà kinh tế học thường giả định con người đưa ra quyết định hành động hợp lý, theo lý trí, tức là các quyết định được đưa ra là sự lựa chọn tốt nhất để đạt được mục tiêu xác định. Chẳng hạn, người tiêu dùng sẽ quyết định về mua sắm hàng hóa dịch vụ dựa trên tiêu chí tối đa hóa độ hài lòng, thỏa mãn của họ trong điều kiện nhất định về thu nhập và giá cả của hàng hóa, dịch vụ. Doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Trong thực tế, các quyết định nhiều khi liên quan đến mức độ gia tăng. Chẳng hạn, người trồng rừng sẽ phải quyết định khai thác rừng để thú được sản phẩm ngay tại thời điểm hiện tại hay chờ thêm một năm nữa để có khối lượng sản phẩm lớn hơn vào năm sau? Sinh viên vào mùa thi phải đưa ra quyết định học thêm một giờ nữa trong ngày hay dừng lại để nghỉ ngơi, giải trí. Các nhà kinh tế gọi đó là những thay đổi cận biên để chỉ những điều chỉnh nhỏ và tăng dần trong kế hoạch hành động của mỗi người. Để có quyết định đúng đắn con người thường cân nhắc lợi ích mang lại và chỉ phí phải bỏ ra của những thay đổi cận biên đó.
Tức là so sánh lợi ích cận biên và chi phí cận biên để đưa ra quyết định. Chừng nào lợi ích cận biên còn cao hơn chỉ phí cận biên thì việc thực hiện hành động đó sẽ là hợp lý và lợi ích tối đa sẽ đạt được ở điểm mài ích cận biên đúng bằng chỉ phí cận biên. Ví dụ: Một tài xế xe chất lượng cao.Hà Nội < Hải Phòng đứng trước tình huống xe còn trống ghế và đã đến giờ xuất bến có 2 khách muốn đi ngay nhưng chỉ trả 70. Khi-đó nếu quyết định không cho hai hành khách nói trên đi xe vì trả giá vé thấp hơn giá quy định thì quyết định chưa đúng.
Bởi vì, dù trên xe có bao nhiêu khách đi nữa thì xe vẫn phải xuất bến và vẫn phải đi đúng lộ trình do ban quản lý bến quy định. Khi đó, chỉ phí xăng dầu, lệ phí đường.vẫn như lúc xe đủ hành khách. Vì thế, người tài xế nên cân nhắc lợi ích tăng thêm và chỉ phí tăng thêm nếu chở thêm khách. - Lợi ích tăng thêm khi có thêm T người khách là số tiền kiếm được từ hành khách đó (70.
- Chỉ phí tăng thêm chỉ là Ï chai nước và chiếc khăn cho hành khách tổng cộng là 10. Rõ ràng việc cho người khách kia lên xe là có lợi 60. Do đó, chừng nào faà.gười khách bổ sung còn trả giá vé cao hơn 10.000 đồng thì việc cho anh ta lên xe còn có lợi, Như vậy, con-người sẽ đưa ra quyết định tốt hơn nếu cân nhắc suy nghĩ tại điểm cận biên. Nguyên lý 4: Con người phản ứng với các kích thích Việc ra quyết định hành động của con người phụ thuộc vào động cơ thực hiện hành động đó.
Khi có một kích thích nào đó về lợi ích hoặc tôn hại, sẽ tạo ra động cơ 11 để con người hành động. Do vậy, quyết định của con người được giải thích như là những phản ứng của họ đối với các kích thích. Ví dụ, tiền lương tăng nói chung sẽ tạo ra kích thích đối với công nhân làm việc nhiều hơn, trừ trường hợp mức thu nhập của họ đã là quá cao. Một kích thích nào đó có thể tạo ra các hiệu ứng tích cực hoặc tiêu cực và phản ứng của các tác nhân khác nhau trong xã hội sẽ là khác nhau.
Chẳng hạn; khi giá thịt gà tăng lên, người tiêu dùng phản ứng bằng cách ăn ít thịt gà hơn và chuyển sang ăn nhiều thịt lợn hơn. Trong khi đó người chăn nuôi gà lại phản ứng ngược lại: giá thịt gà tăng sẽ kích họ mở rộng quy mô chăn nuôi, thuê thêm nhiều lao động để tăng sản lượng tiêu thụ trên thị trường nhằm tăng thêm lợi nhuận. Bài học thứ bai: Con người tương tác với nhau như thế nào? Bốn nguyên lý đầu tiên bàn về cách thức ra quyết định cá nhân. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày, nhiều quyết định cá nhân không chỉ ảnh hưởng đến bản thân họ mà còn tác động đến những người xung quanh.
Ba nguyên lý tiếp theo liên quan đến cách thức con người tương tác với nhau.