CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ KINH TẾ HỌC Chương này cung cấp các khái niệm cơ bản và một gố quy luật, công cu phân tÍch quan trong của kinh tế học hiện đại, nhằm giúp cho sinh viên có được kiến thức ban đấu về môn học. KHÁI NIỆM, NHỮNG ĐẶC TRƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁE LUẬN NGHIÊN CỨU CỦA KINH TẾ HỌC 1. Khái niềm kinh tế học Kinh tế học là môn học ra đời cách đây hơn hai thế kỳ. Từ đó đến nay, kinh tế học trải qua nhiều giai đoan phát triển và cùng đã xuất hiện khá nhiều định nghĩa.
Sau đây là một trong số định nghĩa thông dụng về kính tế học được nhiều nhà kính tế hiện nay thống nhất : "Kinh tế học là môn học nghiên cứu xem xã hội sử dụng như thế nào nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra những hàng hớa cẩn thiết và phân phối cho các thành viên của xã hội"t), Kinh tế học là môn học nghiên cứu hoạt động của con người trong sàn xuất và tiêu thụ hàng hơa. Kinh tế học cd quan hệ chặt chế với nhiều món khoa học xã hội khác như : Triết học, kinh tế chính ' trị học, sử học, xã hôi hoc. -Ngoài ra, trong số các môn học khác có (1) Econormes, Paul A. Samuelson and William D.
Nordhzus, Thirteen Fdiuon trang Š. liên quan với kính tế hoc, cần chú ý đặc biệt vai trò thống kế hoc. Kfnh tế học thường được chía thành hai phân ngành lớn Ñinh tế vỉ mô và Kinh tế vi mồ. Kính tế uï mô nghiên cứu hoạt động của toàn bộ tống thể rộng lớn của nền kinh tế như tăng trưởng kinh tế, sự biến động của giá cà và việc làm của cä nước ; cán cân thanh toán và tỷ giá hối đoải.
Trong khi đó, Xinh tế uí mó lại nghiền cứu sự hoạt động của các tế bào Prong nến kinh tế là các doanh nghiệp hoặc gia đình, nghiên cứu những yếu tố quyết định giá cÀ trong các thị trường riêng lẻ. Tùy theo cách thức sử dụng mà kinh tế học được chia thành hai đạng là kinh tế học thực chứng và kinh tế bọc chuẩn tắc. Kinh tế học thực chúng là việc mô tà và phân tích các sự kiện, những mối quan hệ trong nền kính tế : Hiện nay, tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu ? Nếu lạm phát gidm di 2% thì thất nghiệp cố tăng lên không và tăng bao nhiêu 7 Cồn hinh tế học chuồn tác lại đề cập đến mặt đạo lý được giải quyết bằng sự lựa chọn, chẳng hạn như : Tỷ lệ thất nghiệp cao đến mức độ nào thì chấp nhận được ? Cố nên tàng chỉ phí quốc phòng không ? Cố nên dùng thuế để lấy bớt thu nhập của người giàu bù cha kẻ nghèo không ? Những vấn để này thường được tranh luận nhưng không bao giờ được giải quyết bằng khoa học hoặc bàng thực tiễn kinh tế. Kinh tế học thực chứng là để trà lời cAu hỏi "LÀ bao nhiêu ?°*, "Là gi ?","Nhu thế nào ?*".Còn kinh tế học chuẩn tác là để trả lời câu hỏi:"Nên làm cái gì ?.
Nghiên cứu kinh tế thường được tiến hành từ kinh tế học thực chứng rối chuyển sang kinh tế học chuẩn tác. Những đặc trưng của kính tế học ~ Đặc trưng cơ bàn và quan trọng của khoa kinh tế học gắn liền, uới Hền dề nghiên citu vd phat triển của mán học này, Đó là việc kinh tế hoe nghiên cứu sự khan hiếm các nguồn lưc một cách, tương đối với nhu cấu kính tế vã bồi Nền <9 thế sản xuất với-gế lugng v4 hau ve moi loai hang hoa và thỏa mãn đẩy đú được môi nhu cầu của con người, thì sẽ không có hàng hóa kinh tế và cũng không cần tiết kiệm hay nghiên cứu kinh tế học. - Đậc trưng quan trọng thứ hai của kinh tế học là tính hợp lý của nơ. Đặc trưng này thể hiện ở chỗ khi phân tích hoặc lý giải một sự kiện kinh tế nào đó, cần phải dựa trên những giả thiết nhất định (hợp lý) về diễn biến của sự kiện kinh tế này.
ChẢng hạn, khi muốn phân tích xem người tiêu dùng muốn mua thứ gì, với số lượng bao nhiều, kinh tế học đưa ra giá định là họ tÌm cách mua được nhiều hàng hóa và dịch vu nhất, với số thu nhập có hạn của mình. Để giải thích xem doanh nghiệp sản xuất cái gì, bao nhiêu và bằng cách nào, nó giả định là họ tÌm cách tối đa hỏa thu nhập của mình với những ràng buộc nhất định vf các yếu tố sản xuất Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tính chất hợp ly của những già thiết này chỉ có ý nghỉa tương đối. - Đặc trưng phố biến thứ ba của kinh tế học là: kinh tế học là một bộ ryuôn nghiên cứu niật lượng. Việc thể hiện các kết quả nghiên cứu kinh tế bằng những con số cố tầm quan trọng đặc _ biệt.
Khi phân tích kết quả của các hoạt động kinh tế, nếu chỉ nhận định nơ tăng lên hay giảm đi thì chưa đủ, mà còn phải xác định xem sự thay đổi đó là bao nhiêu. - Đặc trưng thứ tư của kính tế bọc là tính toàn diện và tính tống hợp của nó, tức là khi xem xét các hoạt động và sự kiện kinh tế phải đặt nó trong mối liên hệ với các hoạt động và sự kiện kinh tế khác trên phương điện một nước, thậm chí trên phương điện nền kinh tế thế giới. Chẳng hạn, để chống lạm phát, Ngân hang Trung ương của một nước nào đó quyết định giảm mức cung về qT tiền. Kết quả là tổng cầu giàm và làm cho không chỉ giá cá giảm, mã cả sản lượng và việc làm đều giảm.
Mạt khác, do giảm mức cung về tiến, nên đồng tiền nước này tàng giá, hàng xuất khẩu của họ trở nén đất tương đối và hàng nháp khẩu của họ lại giÀm tương đối. Do vậy, xuất khẩu ròng giảm, dẫn đến sản lượng và việc làm của nước này tiếp tục giàm, còn các nước cố quan hệ buôn bán với nước này lại tăng được xuất khẩu, nén khuyến khích sản lượng và việc làm của nước họ. - Dac trung cuối cùng của kinh tế học lá cáe kết quả nghiên cứu kinh tế chỉ xác định được ở mức trung bình, vì những kết quà này phụ thuộc rất nhiều vao các yếu tố khác nhau và không thể xác định được chính xác tất cẢ các yếu tố này. Phương pháp luận nghiên cứu của kinh tế học Khác với khoa học tự nhiền, khi nghiên cứu các hiện tượng kinh tế, người ta thường áp dụng phương pháp quan sát.
Diều đó do các hiện tượng kinh tế hết sức phức tạp, thường xuyên biến động và chịu nhiều yếu tố tác động. Khi nghiên cửu cần phải thu thập các số liệu. Muốn biết xem lạm phát có xây ra không, mức độ như thế nào, thi cần phải biết được số liệu về sự tăng lên của mức giá nói chung, nền kinh tế đang tăng trưởng hay suy thoái thi phải cố số liệu về GNP. Sau khi đã cố số liệu, cần phải tiến hành phân tích với các phương pháp phân tích thích hợp.
Đời sống kinh tế luân diễn ra hết sức phức tạp với hàng ngàn loại giá cả và hàng triệu hộ gia đỉnh, với vô vàn các mối quan hệ chằng chịt và đan xen với nhau, Mật phương pháp vô cùng quan trọng trong nghiên cứu kinh tế là phương pháp trừu tượng hóa, bóc tách các nhân tố không định nghiên cứu (cố định các nhân tố này) để xem xét các mối quan 8 hề kinh tế giưa những biến số cơ bàn. Khi phân tích trừu tượng: như vậy, việc sử dụng các phương pháp thống kê ca ¥ nghia rất lớn. Sau đó cẩn rút ra nhưng kết luận, đối chiếu với thực tế, phát hiện ra những diểm bất hợp lý, để ra các giả thiết mới, rối lại kiểm nghiệm bằng thực tế để rút ta những kết luận sát thực hơn với đời sống kinh tế, I. TỔ CHỨC KINH TẾ CỦA MỘT NỀN KINH TẾ HỒN HỢP 1.
Ba chức năng cơ bản của một nền kinh tế Tất cả các nến kinh tế quốc dân đều phải thực hiện ba chức mang co ban sau: - Sdn xuất ra những hàng hóa và dịch vụ nào, với số lượng bao nhiêu. Cơ sở của chức năng này là sự khan biếm nguồn lực so với nhu cấu của xã hội. Nếu một nước có số lượng không bạn chế các nguồn lực kinh tế, thì không cần phải giải quyết vấn đề là xem sản xuất cái gì, tức là không cá nhu cẤu sàn xuất đúng những thứ cần thiết hay những thứ mà mọi người muốn có. Nhiệm vụ chủ yếu mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng cần phải giải quyết là, giảm đến mức tối thiểu sự lăng phí trong việc sản xuất ra - những sản phẩm kháng cần thiết và tăng cường đến mức tối đa việc sản xuất ra những sản phẩm cần thiết.
- Các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra như thế nào. Việc lựa chọn đúng đán vấn đề này thông thường cing đồng nghĩa với việc sử dụng số lượng đầu vào Ít nhất để sản xuất ra một số lượng sản phẩm nhất định. - Hàng hóa và dịch vụ được sản xuất cho ai hay sản phẩm quôe đân được phân chia như thế nào cho các thành viên của xã bội. Ba vain để nêu trên là những chức nắng rà bất kỳ rến kinh tế nào cũng phải thực hiện, bất kể hình thức hay trỉnh độ phát triển của nơ như thế nào.
Tất cả những chức năng này đấu mang tính lựa chọn, bởi vì các nguồn lực cần thiết để sản xuất ra sản phẩm déu khan hiếm. Cơ sở cho sự lựa chọn này được thực hiện là: - Tén tại những cách sử dụng khác nhau các nguồn lực trong việc sản xuất ra những sản phẩm khác nhau. - Tốn tại các phương pháp khác nhau để sản xuất ra một sản phẩm cụ thể. - Tên tại các phương pháp khác nhau để phân phối các hàng hơa và thu nhập cho các thành viên của xã hội: Những cách thức để giải quyết ba vấn đề éơ bản nêu trên trong một nước cụ thể sẽ tùy thuộc vào lịch sử, hệ tư tưởng và chính sách của nước này.
Tổ chức kinh tế của nền kinh tế hỗn hợp Các hệ thống kính tế khác nhau cơ những cách tổ chức kinh tế khác nhau để thực hiện ba chức nắng cơ bản của nến kinh tế. Lịch sử phát triển của loài người cho thấy có các kiểu tổ chức Sau: - Nén kinh tế tập quán truyền thống: Kiểu tổ chức tập quán truyền thống hay bản náng đã tốn tại dưới thời công yẩ nguyên thủy.