chương I, chúng ta đã bước đầu luyện tập một số kĩ năng ca hát, tư thế hát, biết cách luyện thanh, tập thể hiện một số bài hất hành khúc, trữ tình, vui hoạt trong chương trình Trung học cơ sờ. Chúng ta đã tìm hiểu về hoạt động cùa cấc cơ quan phát thanh, các xoang cộng minh đê’ nắm được cách tổ chúc âm thanh trong ca hát, phân biệt các loại giọng hát. Muốn thể hiện được đúng sắc thái tình cảm, phong cách, nội dung tư tường của từng bài hát, cần phải biết sử dụng kết hợp đổng thời các kĩ nãng hát trong một kĩ thuật hát nhất định. Điéu tiết hơi thờ và xử lí ngôn ngữ là những kĩ năng cơ bản, rất quan trọng để thực hiện những kĩ thuật hát phổ biến như hát liền giọng, hát nảy tiếng, hát nhanh, hát thể hiện sắc thái cường độ, nhịp đ ộ.
phục vụ cho việc thể hiện những tình cảm phong phú, phức tạp khác nhau trong các bài hát và hát được rõ lời. Chương II sẽ giới thiệu về hơi thớ trong ca hát và các bài tập luyện hơi thớ; những đặc điểm cơ bản trong ngôn ngữ tiếng Việt, cách xử lí nhả chữ trong ca hát: tìm hiểu một số kĩ thuật hát - hát liền tiếng, nảy tiếng, hát nhanh và hướng dẫn thực hành thể hiện bài hát trong chương trình Trung học cơ sở. • Mục tiêu + Hiểu và biết cách luyện tập hơi thở trong ca hát. + Hiểu được đặc điểm ngôn ngữ tiếng Việt.
+ Biết cách luyện tập hát rõ lời. + Hiểu và làm quen với một số kĩ thuật hát cơ bản. + Úng dụng tập thể hiện bài hát trong chưcmg trình Trung học cơ sờ. 55 • Điểu cần biết + Điều tiết hơi thớ.
+ Xử lí ca từ. + Hát liền tiếng, nảy tiếng, hát nhanh. • Hướng dẫn thực hiện Các nội dung 1, 2, 3 trong chương này được giới thiệu xen kẽ trong các tiết học. Sinh viên cán đọc trước tài liệu, tim hiểu những nội dung lí thuyết, chuẩn bị bài hát trước khi lên lóp.
Mỗi tiết học cần dành nhiều thời gian thực hành luyện thanh và thể hiện bài hát, kết hợp với nội dung lí thuyết. §1 HƠI THỎ TRONG CA HÁT Sừ dụng hơi thở trong ca hát là một kĩ năng cơ bản, quyết định nhiều đến chất lượng thể hiện tác phẩm, tạo ra giọng hát đẹp, truyền cảm. Hơi thở trong ca hát gắn bó chặt chẽ với sự phát ám. Một sô cách hít thở Trong thực tế hoạt động, người ta luôn phải hít thở.
Quan sát người ta hít thở, nhiều nhà sư phạm đã phát hiện ra một sô' cách hít thờ khác nhau. Bình thường, trong lúc nói chuyện, việc hít vào, thờ ra thoải mái, tự nhiên. Để diễn đạt câu nói dài hay ngắn, người nói điều khiển hơi thở mội cách tự nhiên, không hề nghĩ đến phải thờ như thế nào, thở nông hay thớ sâu, có cần khống chế hơi thờ hay không. Cứ như vậy, người ta có thể nói một cách nhẹ nhàng.
Tuy nhiên, có lúc gọi nhau đột ngột, lúc tức giận, tranh cãi hay lúc hoảng sợ. la hét thường phải nói to, hét to, tính chất thó bạo, mạnh. Khi đó, người ta phải hít hơi vào gấp, bộ máy phát âm bắt buộc phải hoạt động với một cường độ cực lớn. Cơ bắp cổ họng phải tập trung dùng nhiều sức, mạch máu dồn căng gáy đỏ mặt, âm phát ra nặng nề, cứng, thô (dằn giọng).
Đó là cách thở không bình thường. Cách thở đó đối khi khiến người ta lạc cả giọng. Nếu kéo dài tình trạng thớ như vậy thém. có thể làm ho sặc sụa, để rồi sau đó mất cả tiếng.
56 Trong nghệ thuật ca hát, người hát chủ động và luyện tập thành kĩ thuật, sử dụng để điều tiết hơi, nhằm mục đích thể hiện tác phẩm thanh nhạc. Khi đó, hơi thở hít vào sâu, được khống chế bằng hoành cách mô và được đưa ra từ từ. Do vậy, các cơ bắp cổ, bụng, ngực không bị căng thẳng, mà có thể đàn hồi, co dãn mềm mại và có sức. Âm thanh phát huy được cộng hưởng của các khoảng vang cộng minh, trở nên tròn, đầy, vang sáng, kết hợp nhịp nhàng với hoạt động cùa môi, miệng, răng lưỡi, hàm.
tạo thành ngón ngữ ca hát một cách chính xác, rõ ràng. Thờ có khống c h í hơi còn được các vận động viên thể thao, diễn viên múa sử dụng. Một sô cách lấy hơi Trong ca hát, sự thay đổi và phất triển các kiểu hít thở là do nhu cáu tạo ra âm thanh, nhằm thể hiện theo yêu cầu của tinh cảm, tính chất âm nhạc và phong cách tác phẩm, phong cách biểu diễn. Vì thế có thể áp dụng nhiều kiểu hít thớ khác nhau.
Mỗi ngưòi có thể sử dụng một kiểu hít thờ nào đó để đạt được yêu cầu nghệ thuật mà mình thực hiện và điều kiện cơ thể cho phép. Ta hãy tìm hiểu một số kiểu lấy hơi (hít hơi) để phân biệt và sử dụng cho phù hợp. Lấy hơi ngực Lấy hơi ngực, có khi còn được người ta gọi là thở ngực. Khi hít hơi vào, không khí chứa đầy phần trên của hai lá phổi, làm cho lồng ngực phía trên nhô lên, hoành cách mô hầu như ổn định, không hoạt động.
Lấy hơi ngực được ít hơi và hơi lại nông. Người hát nếu chỉ lấy hơi ngực thường dùng miệng đế lấy hơi. Vì thế miệng, yết hầu rất nhanh bị khô. Lấy hoi bụng Lấy hơi bụng, còn được gọi là thở bụng.
Khi hít hơi vào, lồng ngực hẩu như không động đậy, chỉ có bụng phình ra. Hơi được hít vào sâu, đầy đến tận đáy phổi. Nếu chỉ dùng một kiểu lấy hơi bụng, hơi thở do hít được vào nhiều, đẩy xuống làm bụng dưới to lên, nhưng mô hoảnh cách vì thế cũng bị chèn ép, khó linh hoạt cứ động. Láy hơi ngực và bung Lấy hơi ngực và bụng còn gọi là thở sâu.
Khi hít hơi vào, phần ngực dưới căng ra, các xương sườn cụt giương lẽn, bụng cũng hơi phinh ra một chút ờ phía dưới và cả hai bên sườn. Các bộ phận như phổi, lồng ngực, bắp thịt ngực và hoành cách mô phối hợp với nhau khống chế hơi thở một cách chủ động. Phương pháp luyện tập hơi thờ trong ca hát Để điều tiết hơi thở một cách khoa học, phối hợp nhịp nhàng với các bộ phận khác nhau cùa cơ quan phát âm, cần phải luyện tập về hơi thở. Người hát qua luyện tập thường xuvên kĩ nãng sử dụng hơi thờ sẽ nắm được những cảm giác cố định của hoạt động, điều khiển các thao tác liên quan đến hơi thờ một cách chù động.
Trước hết, tập lấy hơi vào nhanh và đẩy hơi ra chậm. Quy trình luyện tập gồm các khâu sau: a. Động tác lấy hơi Hít hơi nhanh qua mũi và có thể hít một phần nhỏ qua miệng. Hơi thờ vào phải nhẹ nhàng, kín, không được gáy thành tiếng.
Tuy lấy hơi nhanh nhưng tư thế cơ thể phải tự nhiên, mềm mại. Vai không nhô cao. Hơi thở lấy vào chi vừa đủ với khả năng của cơ thể cho phép, không được lấy hơi quá nhiều, quá căng, quá đẩy. Cố gắng giữ hơi ờ trạng thái đầy đặn cần thiết trong suốt độ dài của câu hát.
Động tác đẩy hơi Sau khi hít hơi vào nhanh và gọn. ta giữ hơi lại trong khoảng một, hai giây. Sau đó dần dần đưa hơi thờ theo âm thanh ra đểu dặn. Dùng các cơ bắp, lồng ngực, cơ bụng và hoành cách mô để khống chế và điểu khiển hơi thở sao cho tới cuối câu hát hơi thờ vẫn còn thừa lại một ít trước khi hít hơi thờ mới.
Những sinh viên mới tập hát có thể tập riêng hơi thờ, không có âm thanh để bước đầu làm quen với cách thờ tích cực trong ca hát. Khi tập, ta hít hơi vào như ngửi hương thơm. Giữ hơi thờ một vài giây, rồi đặt đầu lưỡi vào giữa hai hàm răng và xì dần hơi ra qua khe hỡ cùa hai hàm răng. Âm thanh phát ra phải liên tục, đều đặn, không được đứt quãng.
Bụng không được xẹp xuống đột ngột. Thời gian xì hơi càng dài càng tốt. Sừ dụng hơi thở vào bài hát Rèn luvện hơi thớ gắn liền với tập thể hiện bài hát, đồng thời với luyện tập riéns từng thao tác của quy trình sừ dụng hơi thờ. Qua đó, sinh viên Sư phạm 58 Âm nhạc có được những hiểu biết cụ thể, có khả nang thực hành vận dụng vào giải quyết những yêu cầu cẩn đạt ở từng chi tiết trong bài hát.
Trong một bài hát, cần quy định chỗ phải lấy hơi. Không lấy hơi bừa bãi, tuỳ tiện. Lấy hơi vào cuối mỗi câu hát khi lời ca tương đối đủ ý. Nếu câu nhạc dài, có thể ngắt hơi ở cuối các tiết nhạc, nhưng phải phù hợp với lời ca.
Không lấy hơi ở giữa các từ kép (lung linh, mênh mông, hoà bình.) Tuỳ theo nhịp độ và tính chất âm nhạc cũng như phong cách, thể loại bài hát mà lấy hơi cho phù hợp. Với bài hát trữ tình, lấy hơi phải yên tĩnh, sâu và kín. Với bài hát nhanh, vui, phải hít hơi nhanh, lấy ít hơi, linh hoạt. Với bài hát hành khúc, phải lấy hơi mạnh, sâu.
Sử dụng hơi thớ trong nhiều bài hát còn có ý nghĩa biểu cảm, diễn tả tình cảm một cách tích cực. Bài luyện thanh tập hơi thở Thực hiện các bài tập dưới cần chủ ỷ: + Đặt âm thanh cho tự nhiên, mềm mại, liên tục, các ám phát ra đều đăn, giữ đều âm lượng, vị trí âm thanh chuẩn xác. + Khi phát âm phải có sự chuẩn bị, có sức bật, không được buông lóng cơ môi, hớ mối. + Khi mới tập, có thể hát với tốc độ vừa phải.
Sau đó, tập với tốc độ chậm dẩn đế luyện kéo dài hơi thở. Bài số 13 yêu cầu tập giữ hơi để hát các âm mờ khác nhau trên cùng một độ cao. Yêu cầu tập hát từng âm, rõ ràng, ngân đều, vang. Theo khả năng, có thể lấy hơi sau từng nhịp (2 âm) một.
Giữ vững cao độ, không thay đổi vị trí âm thanh. Bài số 14, 15, 17, 18 yêu cầu phát triển hơi thờ dẩn dần. Ngắt hơi, hít nhẹ, để hát hai nhịp đầu, hát nhấn hơn vào đầu nhịp. Sau nhịp thứ hai cẩn giữ hơi để hát tiết nhạc cuối dài ba nhịp.
Bài số 16 cần hít hơi sâu, nín thở để âm thanh phát ra liên tục, ngân dài tự do ờ cuối nhịp thứ hai theo khả năng để tập giữ hơi, rồi đi xuống một cách nhẹ nhàng. Điều tiết hơi thờ trong khi thể hiện bài hát còn tuỳ thuộc vào độ dài ngắn cùa cáu nhạc.