mở đầu cho thời kỳ công nghệ tiên. Trong thập kỷ 80, người ta đã cho ra đời những vật nuôi đầu tiên là sản phẩm của công nghệ cấy ghép gen. Sự kiện nhân bản vô tính cừu Dolly( 2/1997, lợn (3/2000) tiếp theo ở chuột, bò… là những đóng góp quan trọng của di truyền học phân tử cho khoa học chọn lọc và nhân giống vật nuôi. Tuy nhiên, phạm vi ứng dụng công nghệ sinh học phân tử còn hạn chế và người ta vẫn còn đang nghi ngờ về những hiểm hoạ mà di truyền học phân tử có thể gây ra cho con người thông qua các sản phẩm biến đổi gen.
Lịch sử công tác giống ở Việt Nam Lịch sử phát triển công tác chọn lọc và nhân giống vật nuôi ở nước ta gắn liền với sự phát triển của sản xuất, chăn nuôi ở nước ta. Các giống vật nuôi được hình thành từ lâu đời trong hoàn cảnh các nền sản xuất trồng trọt và chăn nuôi với các tập quán canh tác khác nhau của các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau. Đặc điểm chung của các giống vật nuôi địa phương là có hướng sản xuất kiêm dụng, tầm vóc nhỏ, năng suất thấp, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội chưa phát triển, phụ thuộc 3 nhiều vào điều kiện thiên nhiên và tận thu sản phẩm phụ trong trồng trọt. Việc sử dụng nhân giống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.
Để nâng cao năng suất, từ thời Pháp thuộc cũng như sau này, một số giống vật nuôi nước từ ngoài đã được đưa vào Việt Nam. Quá trình lai tạo giữa các giống nội với các giống nhập cũng như thuần dưỡng chung đã hình thành những nhóm vật nuôi có những đặc điểm riêng biệt của nước ta như: bò Laisind, lợn Thuộc Nhiêu thuộc tỉnh Mỹ Tho (sản phẩm lai giữa lợn địa phương Nam Bộ, lợn Hải Nam, Trung Quốc, lợn Craonaire - Pháp với lợn Yorkshire - Anh), lợn Ba Xuyên tỉnh Sóc Trăng (sản phẩm lai giữa lợn địa phương Nam Bộ, lợn Hải Nam Trung Quốc, lợn Craonaire - Pháp với lợn Berkshire - Anh) Giai đoạn 1960- 1980, hệ thống tổ chức các công ty giống, trạm giống rất phát triển ở hầu khắp các tỉnh, huyện nhưng công tác giống chưa có trọng điểm nên kết quả còn thấp. Trong thời gian này, chúng ta đã cho nhập rất nhiều giống gia súc. gia cầm có năng suất cao của thế giới nhằm lai tạo với các phẩm giống nội tạo các đàn lai kinh tế: F1, F2…cho năng suất cao về sản phẩm thịt.
Hiện nay, đàn giống vật nuôi của chúng ta rất phong phú, nhiều giống loài nhưng chưa tạo được những giống vật nuôi năng suất cao đáp ứng được nhu cầu của sản xuất trong nước. Một số khái niệm cơ bản trong công tác chọn lọc và nhân giống 2. Khái niệm về vật nuôi Khái niệm vật nuôi đề cập trong giáo trình này được giới hạn trong phạm vi các động vật đã được thuần hoá và chăn nuôi trong lĩnh vực nông nghiệp. Chúng ta cũng chỉ xem xét 2 nhóm vật nuôi chủ yếu là gia súc và gia cầm.
Theo Isaac (1970), những động vật được gọi là vật nuôi khi chúng có đủ 5 điều kiện sau đây: - Có giá trị kinh tế nhất định, được con người nuôi với mục đích rõ ràng; - Trong phạm vi kiểm soát của con người; - Không thể tồn tại được nếu không có sự can thiệp của con người; - Tập tính đã thay đổi khác với khi còn là con vật hoang dã; - Hình thái đã thay đổi khác với khi còn là con vật hoang dã. Khái niệm về giống, dòng vật nuôi 2.1 Khái niệm vê giống vật nuôi Khái niệm về giống vật nuôi trong chăn nuôi khác với khái niệm về giống trong phân loại sinh vật học. Trong phân loại sinh vật học, giống là đơn vị phân loại trên loài, một giống gồm nhiều loài khác nhau. Còn giống vật nuôi là đơn vị phân loại duới của loài, có nhiều giống vật nuôi trong cùng một loài.
4 Có nhiều khái niệm về giống vật nuôi khác nhau dựa trên các quan điểm phân tích so sánh khác nhau. Hiện tại, chúng ta thuờng hiểu khái niệm về giống vật nuôi nhu sau: Giống vật nuôi là một tập hợp các vật nuôi có chung một nguồn gốc, được hình thành do quá trình chọn lọc và nhân giống của con người. Các vật nuôi trong cùng một giống có các đặc điểm vê ngoại hình, tính năng sản xuất, lợi ích kinh tế giống nhau và các đặc điểm này di truyên được cho đời sau. Trong thực tế, một nhóm vật nuôi đuợc coi là một giống cần có những điều kiện sau: - Có nguồn gốc, lịch sử hình thành rõ ràng; - Có một số luợng nhất định: Số luợng đực cái sinh sản khoảng vài trăm con đối với trâu, bò, ngựa; vài nghìn con đối với lợn; vài chục nghìn con đối với gà, vịt; - Có các đặc điểm riêng biệt của giống, các đặc điểm này khác biệt với các giống khác và được di truyền một cách tương đối ổn định cho đời sau; - Được Hội đổng giống vật nuôi quốc gia công nhận là một giống.
Khái niệm về dòng vật nuôi Từ khái niệm dòng: là một nhóm vật nuôi trong một giống. Một giống có thể vài dòng (khoảng 2 - 5 dòng). Các vật nuôi trong cùng một dòng, ngoài những đặc điểm chung của giống còn có một hoặc vài đặc điểm riêng của dòng, đây là các đặc điểm đặc trưng cho dòng. Chẳng hạn, hai dòng V1 và V3 thuộc giống vịt siêu thịt CV Super Meat đã được nhập vào nước ta.
Dòng V1 là dòng trống có tốc độ sinh trưởng nhanh và khối lượng cơ thể lớn, trong khi đó dòng V3 là dòng mái có khối lượng nhỏ hơn, tốc độ sinh trưởng chậm hơn, nhưng lại cho sản lượng trứng và các tỷ lệ liên quan tới ấp nở cao hơn. Tuy nhiên, trong thực tế người ta có những quan niệm khác nhau về dòng. Các quan niệm chủ yếu bao gổm: - Nhóm huyết thống: Là nhóm vật nuôi có nguồn gốc từ một con vật tổ tiên. Con vật tổ tiên thường là con vật có đặc điểm nổi bật được người chăn nuôi ưa chuộng.
Các vật nuôi trong một nhóm huyết thống đều có quan hệ họ hàng với nhau và mang được phần nào dấu vết đặc trưng của con vật tổ tiên. Tuy nhiên, do không có chủ định ghép phối và chọn lọc rõ ràng nên nhóm huyết thống thường chỉ có một số lượng vật nuôi nhất định, chúng không có các đặc trưng rõ nét về tính năng sản xuất mà thông thường chỉ có một vài đặc điểm về hình dáng, màu sắc đặc trưng. - Nhóm vật nuôi địa phương: Là các vật nuôi trong cùng một giống được nuôi ở một địa phương nhất định. Do mỗi địa phương có những điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hôi nhất định, do vậy hình thành nên các nhóm vật nuôi địa phương mang những đặc trưng riêng biệt nhất định.
- Dòng cận huyết: Dòng cận huyết được hình thành do giao phối cận huyết giữa các vật nuôi có quan hệ họ hàng với một con vật tổ tiên. Con vật tổ tiên này thường là con đực và được gọi là đực đầu dòng. Đực đầu dòng là con đực xuất sắc, có thành tích nổi bật về môt vài đặc điểm nào đó mà người chăn nuôi muốn duy trì ở các thế hệ sau. Để tạo nên dòng cận huyết, người ta sử dụng phương pháp nhân giống cận huyết trong đó các thế hệ sau đều thuộc huyết thống của đực đầu dòng này.
Khái niệm về giống Giống vật nuôi là một tập hợp các vật nuôi có chung một nguồn gốc, được hình thành trong điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nhất định do quá trình chọn lọc và nhân giống của con người, có số lượng nhất định để có thể là nhân giống trong nội bộ của nó, các giống vật nuôi trong cùng một giống có các đặc điểm về ngoại hình, thể chất, đặc tính sinh lý. Sinh hoá và lợi ích kinh tế giống nhau, các đặc điểm di truyền này có thể di truyền qua các thế hệ và cho phép phân biệt giống này với giống khác. Khái niệm về dòng Dòng là một nhóm vật nuôi trong cùng một giống được xuất phát từ một con đực tổ đầu dòng. Các thế hệ con cháu trong dòng chịu ảnh hưởng nhất định về huyết thống với con đực tổ.
Phân loại giống vật nuôi Kết hợp nhiều quan điểm và dựa vào điều kiện kinh tế xã hội, trình độ khoa học kỹ thuật ảnh hưởng tới quá trình hình thành giống mà có các cách phân loại sau: - Phân loại theo trình độ gây giống: có 3 loại: + Giống nguyên thuỷ: Các giống này thường có tầm vóc nhỏ bé, năng suất thấp, kiêm dụng, thành thục muộn, điều kiện nuôi dưỡng đơn giản, khả năng chịu đựng kham khổ cao, sức kháng bệnh cao thích nghi với điều kiện địa phương hẹp, bảo thủ di truyền cao, biến dị thấp. Hầu hết các giống vật nuôi nội của nước ta thuộc nhóm này. + Giống quá độ: Là các giống nguyên thủy được chọn lọc và chăm sóc nuôi dưỡng ở mức độ cao hơn nên đặc điểm cơ bản là tầm vóc đã được cải tiến, sức sản xuất được nâng cao hơn nhưng vẫn kiêm dụng, thành thục sớm hơn, các đặc tính về sản xuất tương đối thuần nhất, nếu nuôi dưỡng kém sẽ trở lại giống nguyên thuỷ. + Giống gây thành: Là giống được hình thành trong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật cao.
Đây là kết quả chọn lọc có ý thức của con người. Đặc điểm cơ bản của các giống gây thành là: sức sản xuất cao, hướng sản xuất chuyên dụng, sớm thành thục, sức chịu đựng kham khổ và kháng bệnh kém, tính bảo thủ di truyền kém, biến dị cao, dễ thay đổi khi điều kiện ngoại cảnh và nuôi dưỡng thay đổi, đòi hỏi phải được nuôi dưỡng, chăm sóc ở trình độ cao. Ví dụ: lợn Ladnrace, gà Leughorn, bò sữa Holstein Frisian … - Phân loại theo tính năng sản xuất: + Giống kiêm dụng: Có thể sử dụng với nhiều tính năng sản xuất khác nhau. + Giống chuyên môn hoá: Có năng suất cao về một tính năng sản xuất các mặt khác bình thường.
Ví dụ: Bò sữa lang trắng đen Hà Lan, gà Leughorn. - Phân loại căn cứ vào nguồn gốc: + Giống vật nuôi địa phương: là các giống có nguồn gốc tại địa phương được hình thành trong điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương. Ví dụ: lợn Ỉ, lợn Móng cái, bò Vàng Thanh Hoá, vịt Cỏ… là giống địa phương có khả năng thích nghi cao với điều kiện tập quán chăn nuôi của địa phương nhưng năng suất thấp.