mở đầu bằng bức tranh thiên nhiên Đèo Ngang buổi chiều tà: Bước tới Đèo Ngang bóng xé tà. Chiều tà là một khung cảnh gợi buồn và gợi nhớ trong thơ cổ. Đây là loại không thời gian nghệ thuật mang tính chất cổ. điển của thơ ca trung đại Việt Nam.
Từ “bóng tịch đương” trong Thăng Long thành hoài cổ đến “bóng xế tà” trong Qua Đèa Ngang, quả thật, chiều tà đã trở. thành tín hiệu quan trọng khơi gợi cảm thức thẩm mĩ hoài cổ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan. Và cảnh chiều tà của dải Hoành Sơn hùng vĩ hiện ra sinh động dưới hai góc độ là cảnh thiên nhiên và cảnh sinh hoạt của con người. Bức tranh thiên nhiên hiện lên khoáng đạt mà heo hút: “Củ câu chơn đá lắ chen hoa”.
Ảnh mắt của nhân vật trữ tình nhìn khái quát rồi lại đi vào cận cảnh theo đúng nguyên tắc cận viễn của thơ cổ. Động từ “chen” lặp lại hai Ian tưởng chừng khiến cho cảnh vật trở nên sinh động, thêm phản sinh khí. "Tuy nhiên, chút sinh khí đó không làm vợi bớt vẻ hiu hắt của chiều tà vốn là một không gian gợi những nỗi niềm xa vắng. Và cảm giác đó càng đậm nét trong khung cảnh sinh hoạt ở hai câu thực của bài thơ: Lom khom dưới múi tiểu vai chú Lắc đác bên sông chợ mấy nhà Cuộc sống con người chỉ lên qua những hình ảnh thấp thoáng, là “tiểu vài chú” và “chợ mấy nhà”.
Sự xuất hiện của dấu hiệu sự sống, con người thưa thớt càng nhắn mạnh sự hoang lạnh của bức tranh chiều hôm. Cách đếm số ít một cách ước lượng “vài chú, mấy nhà” cùng với hai từ láy “lom khom, lác đác” được đảo lên đầu câu khiến cho những tin hiệu sự sống sinh hoạt trở nên nhỏ nhoi trước sự hùng vĩ của cảnh vật, 86 GIAO TRINH DOC VAN (LÍ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC. Bốn câu thơ đầu chủ yếu tả cảnh, tuy nhiên trong đó đã thấp thoáng cái tình của thỉ nhân. Cảnh vật được nhìn qua đôi mắt đẫm buôn cũng, như trái tim tríu nặng niềm hoài cổ của nữ sĩ nên cả bức tranh Đèo Ngang đều toát lên vẻ cô liêu.
Bước chân lữ thứ trên đặm đường “ngàn mai gió cuốn” là những bước tâm tư. Nguyên tắc “tả cảnh ngụ tĩnh” của thơ Đường luật được Bà Huyện Thanh Quan sử dụng hiệu quả và tỉnh tế Bồn câu thơ sau thể hiện tâm trạng nhớ nước thương nhà và nỗi cô đơn tuyệt đối của nhân vật trữ tỉnh: Nhớ nước đau lồng con quốc quốc Thương nhà mỗi m cái gia gia Dừng chân đứng lại trời, non, nước Một mảnh tình riêng ta túi ta Cau 5 va 6 (phan luận) trực tiếp bộc lộ hai cảm xúc chủ đạo day tinh nhân văn của các trí thức phong kiến truyền thống, đó là nỗi nhớ nước và thương nhà. Đây là hai câu thơ rất tỉnh tế trong việc chơi chữ cũng như: sử dụng điển tích, điển có, vì vậy nó đã được liệt vào hàng “danh cú”. Nỗi nhớ nước thương nhà ấy được nhà thơ gửi gắm thông qua hai hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” Con chim cuc, Trung Quốc gọi là chim đỗ quyên, là loài chim gợi đến.
điển cố tang thương vẻ việc Thục đề mắt nước, ôm hận mà chết biến thành con chim cuốc ngày đêm rút ruột kêu những tiếng thê lương “quốc quốc”. Âm thanh ấy đồng âm với chữ “quốc” (nước), cách chơi chữ tài tình đã biến tiếng kêu của con chim cuốc mỗi đêm hè trở thành tiếng khóc, tiếng than. khắc khoải, sâu thảm của những kẻ vong quốc. Tâm trạng đó sau này chúng, ta còn bắt gặp trong thơ Nguyễn Khuyến với những dòng thơ huyết lệ: “Năm canh máu chảy đêm hè vắng ~ Sáu khắc hỗn tan bóng nguyệt mờ”.
“Cái gia gia” gần đồng âm với chữ “đa đa” gợi nhớ con chim đa da. Con chim đa đa trong các câu chuyện của người Việt đều gắn với những sự tích buồn. Đặc biệt tiếng kêu của nó vô cùng da diết, khắc khoải. Ở đây, cách chơi chữ tinh tế của Bà Huyện Thanh Quan đã khiến âm thanh ấy nhuồm (HƯƠNG lII: ĐỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI 87 phụ nữ xa gia đình hướng đến một “nhà” cụ thể, đồng thời “thương nhà” cũng có thể hiểu là niềm thương nhớ triều Lê khi đứng ở đường biên đây cảm xúc giữa xứ Đàng Trong và xứ Đàng Ngoài.
Hai câu thơ ngắn mà trùng, ệp ý nghúa, vời vợi cảm xúc đồng thời khiến cho độc giả cảm nhận trọn. vẹn vẻ đẹp của hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan, hồn thơ kết hợp giữa chất thi si tai hoa và ý thức công dân trọn vẹn trước vận mệnh quốc gia. Hai câu kết hoàn thiện bức tranh tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan với hình ảnh con người cô đơn tuyệt đối giữa vũ trụ bao la: Dừng chân đứng lại trồi, non, nước Một mảnh tình riêng ta tới la tương phản rõ rệt đã đem đến hiệu quả tạo hình đặc biệt cho câu thơ. Giữa bao la rợn ngợp của trời, non, nước là nhân vật trữ tình nhỏ bế, lẻ loi như một đối trọng cô đơn mà kiên định, “thí trung hữu họa” chính là đây! Ba đối tượng trời, non, nước được tách bạch thông qua ánh nhìn nhuốm màu tâm trạng của nữ sĩ khiến cho thiên nhiên càng được tô.
đậm vẻ hùng vĩ. Và cũng vì thế con người càng trở nên nhỏ bé, đơn côi: “Một mảnh tình riêng tu tới ta”. Nếu như thiên nhiên rợn ngợp trong một tổng thể kì vĩ với trời non. nước thì đến con người, tắt cả đều lẻ loi, đều “rất một mình”: “một mảnh”, tình “riêng”, “ta” với “ta”.
Đỉnh cao nỗi cô đơn của nhân vật trữ tình nằm. ở cụm từ “ta với ta”. Hai đại từ “ta” đều chỉ ngôi thứ nhất, nhân vật trữ tình đã phân thân để đối điện với chính mình cùng “mảnh tình riêng” trăm mối ngàn tơ. Qua Đèo Ngang là đi từ Đàng Ngoài để vào đến Đàng Trong, là hít thở bầu khí quyển của tân triểu mà lòng vẫn nhớ tiếc cựu triều.
Khi ấy, Đèo Ngang không chỉ còn là địa giới hữu hình mà nó còn là địa giới vô hình chất chứa tâm trạng của một trí thức phong kiến điển hình, Do đó, “mảnh tình riêng” tuy rất riêng mà lại rất chung vì nó bắt gặp tâm: thức hoài cổ chung của thơ ca trung đại, đặc biệt, nó rắt nhân van. (3) Tổng kết Qua Deo Ngĩng là một bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ ca Bà 88 GIAO TRINH DOC VAN (LÍ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC. Đèo Ngang đẹp hùng vĩ, man mác buồn đồng thời khắc họa bức tranh tâm trạng mang đậm màu sắc hoài cổ của thỉ nhân. Với ngôn ngữ trang.
trọng, tỉnh tế; cách sử dụng hình ảnh sáng tạo; lối dùng từ, chơi chữ tài tình. bài thơ xứng đáng được coi là một tuyệt phẩm. Đạc đoạn trích “Tĩnh cảnh lẻ loi của người chỉnh phụ “của Đoàn Thị Điểm (1) Khi đọc tác phẩm này cần đặc biệt lưu tâm đến tắn đề vin bin va vin đề lác giả. Tác giả của Chỉnh phụ ngâm là Đặng Trần Côn.
Ông sống ở thế kỉ XVIII, nổi tiếng là người thông minh học giỏi, đã từng làm quan trong một thời gian dài. Dịch giả của tác phẩm này là Đoàn Thị Điểm, một người phụ nữ toàn bích. Bà là người có tài năng. Ngoài Chỉnh phụ ngâm khúc, bà còn là tác giả của Truyên kì tân phả viết bằng chữ Hán.
Về hoàn cảnh sáng tác, Đặng Trần Côn sáng tác Chính phụ ngâm vào khoảng nửa đầu thế kỉ XIX. Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong. Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê - Mạc đánh nhau đến Trịnh - Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa. Ngai vàng của nhà Lê mục ruéng, Nong dan bat bình nồi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi.
Nhân dân sống, trong cảnh loạn li nỗi da nâu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng, Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chat tan bao, phản động của giai cấp thông, trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát ấy. Chỉnh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Nhiều bản địch xuất hiện, trong đó bản dịch sang, chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành công giá trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác. Tác phẩm thể hiện thái độ oán ghét chiến tranh phi nghĩa va thể hiện tâm trạng khao khát tình yêu hạnh phúc lứa đôi, một đề tài ít được chú ý tới trong thời điểm bấy giờ.
Nội dung ấy được thể hiện bằng bút pháp tự sự và trữ tình đặc sắc. Đoạn trích Tình cánh lẻ loi của người chính phụ trích trong Chỉnh phụ ngâm từ câu 193 đến câu 216. Đoạn trích có thể được chia. làm ba phần.
Đoạn 1 từ câu 1 đến câu 16 thể hiện nỗi cô đơn của người chỉnh phụ trong cảnh lẻ loi, cảm giác vẻ thời gian chờ đợi, có tìm cách giải (HƯƠNG lII: ĐỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI 89 người chồng ở xa, cảnh khiến lòng thêm ảm đạm. Đoạn 3 là phần còn lại, thể hiện tâm trạng người chỉnh phụ ở đâu, lúc nào, làm gì cũng chỉ gặp. lại chính mình. (2) Doan trích nên phân thành đoạn nhủ để đọc, trong khi đạc cầm chú ý lầm đặc trưng của khúc ngâm đó là các dòng mạch cảm xúc của nhân nật trữ.
tình mà phần lớn là ai odn, buồn thương, day dứt. Đoạn 1 (16 câu thơ đầu) thể hiện tâm trạng buôn, cô đơn, lẻ loi, khát khao hạnh phúc lứa đôi, Tám câu thơ đầu thể hiện tâm trạng khắc khoải chờ chồng. Người chỉnh phụ đi đi lại lại trong hiên vắng, hết rủ rèm xuống lại cuốn rèm lên. Những hành động lặp đi lặp lại diễn tả s túng, bề tắc của người chinh phụ.
Nàng trách móc con chim thước chẳng, báo tin, người chỉnh phụ chỉ còn biết làm bạn với ngọn đèn. Đêm đêm người thiếu phụ ngồi bên ngọn đèn cho đến khi bắc cháy rụi thành than hồng rực như hoa. Không gian mênh mông càng đẩy sự cô đơn trằm lặng của con người lên cao độ. Hình ảnh ngọn đèn, hoa đèn gợi cho người dọc nhớ đến ngọn đèn chẳng tắt của người thiếu nữở bài ca dao “đèn thương, nhớ ai mà đèn chẳng tắt với nỗi nhớ da diét, ding đặc.
Tám câu thơ tiếp. theo không gian bên ngoài phòng đã vắng càng thêm hoang vắng, tịch minh: ga gay 5 canh, cây hòe phắt phơ rủ bóng, Sự vắng vẻ như bủa vay người chỉnh phụ, khiến nàng càng buồn. Người thiếu phụ xa chồng đã thao thức suốt cả năm canh.