mở đầu với Nam triểu công nghiệp diễn chí (1791) của Nguyễn Khoa Chiêm, đạt tới hoàn thiện với Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái). (2) Phân loại tiểu thuyết chương hồi. Lỗ Tắn trong cuốn Lược sử tiểu thuyết Trưng Quốc (Trung Quốc tiểu thuyết sử lược) đã phân tiểu thuyết chương hỏi đời Minh thành 4 loại là giảng sử, thần ma, nhân tình thế thái và thị đân; phân tiểu thuyết chương, hồi đời Thanh thành sáu loại là giảng sử, châm biếm, nhân tình, hiệp tà, hiệp nghĩa và khiển trách. Vẻ sau, nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc dựa vào tiêu chí đề tài đã thống nhất chia tiểu thuyết chương hồi thành năm.
loại là giảng sử, anh hùng, thần ma, nhân tình thể thái à loại thứ năm là biến thể của tiểu thuyết chương hỏi là đoản thiên tiểu thuyết. Ở Việt Nam, tiểu thuyết chương hỏi chủ yếu là tiểu thuyết giảng sử, tiêu biểu là Hoàng Lê nhất thống chí của nhóm Ngô gia văn phái. (3) Đặc điểm thể loại. Về để tài, tiểu thuyết chương hồi đời Minh Thanh rất phong phú.
Như trên đã nói, các nhà nghiên cứu Trung Quốc phân loại thể loại này cũng dựa trên tiêu chí đẻ tài là chủ yếu. Đồng quan điểm với nhà nghiên cứu Đông phương học Xêmanốp phân tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc thành hai tiểu loại là tiểu thuyết anh hùng (bản chất cũng là giảng. 92 GIAO TRINH BOC VAN (LÍ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU TAC PHAM VAN HOC. trong tiểu thuyết chương hỏi là lịch sử và thế sự.
Đề tài lịch sử phổ biến. ở tiểu thuyết đời Minh như Tam quốc diễn nghĩa (La Quán Trung) và đề tài thé su đem đến những tác phẩm kết tinh ở đời Thanh như Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần). Ở Việt Nam, tiểu thuyết chương hồi chủ yếu hướng đến để tài lịch sử, Tiểu thuyết chương hồi có kết cầu theo lối chương hỏi độc đáo, đầu mỗi hồi đều có phẩn “nhập thoại” (nhập chuyện) bằng thơ hoặc một mầu chuyện nhỏ. Tiếp theo là phẩn “chính văn” khắc họa rõ nét nhân vật và ; phần này ngoài tự sự còn xen lẫn cả thơ, từ, phú có tác dụng làm sáng tỏ thêm câu chuyện đồng thời gián tiếp bộc lộ thái độ của tác giả.
Phần cuối cùng, kết thúc các hồi thường bằng thơ hoặc từ, tác dụng chính của nó là thể hiện ý nghĩa khuyên răn. Tiểu thuyết chương hỏi thường có kết cầu lớn với nhiều sự kiện, nhiều nhân vật và chủ yếu được kể theo. trình tự thời gian tuyến tính. Về nhân vật, sự kiện, tiểu thuyết chương hồi thường có số lượng, nhân vật và sự kiện vô cùng đỏ sộ.
Tam quốc điễn nghĩa (La Quán Trung) có hơn 400 nhân vật với hàng trăm trận giao tranh lớn nhỏ; Hằng lâu mộng: (Tào Tuyết Cần) có 443 nhân vật (230 nam và 213 nữ). Nhân vật của tiểu. thuyết chương hồi về để tài lịch sử chủ yếu được khắc họa thông qua hành động và ngôn ngữ. Nhân vật chủ yếu là nhân vật chức năng (hay còn được gọi là nhân vật nhất phiến hoặc nguyên phiến nguyên khối), vì vậy thủ pháp khắc họa nhân vật chú trọng ước lệ và cực tả.
Bên cạnh đó, tiểu thuyết chương hồi viết về để tài thé sự bắt đầu có yếu tố miêu tả tâm 1í, thậm chí có cả độc thoại nội tâm. Điều đó khiến tiểu thuyết chương hồi tiệm cận hơn với tiểu thuyết hiện đại. Cách đọc truyện truyềnkì (1) Khái niệm thể loại. Truyện truyền kì là thành tựu trác việt của văn xuôi Trung Quốc cổ đại.
Dây là một thể loại gây nhiều tranh c¿ iệm cũng như nị gốc. Thuật ngữ “truyền kĩ” có thể nói xuất lần đầu tiên trong cuốn tuyển. tập của Bùi Hình (học giả đời văn Đường). Ông tập hợp các tác phẩm tiểu.
Tiếp đó, học giả đời Tống Doãn Sư Lỗ cho rằng cuốn Nhạc Dương. lâu kí của Phạm Trọng Yêm thuộc “thể truyền kĩ”. Về sau, từ “truyền kì” dần được sử dụng với vai trò là một thể thức mới của tiểu thuyết. Tiêu biểu như Hồ Ứng Lân (đời Minh) phân tiểu thuyết làm sáu loại, trong đó loại thứ hai chính là truyền kì.
Đặc biệt ông còn lấy ví dụ cụ thể cho thể loại này bằng hai tác phẩm truyền kì Đường nổi tiếng là Oanh Oanh truyện và Hoắc Tiểu Ngọc truyện. Có thể nói, truyền kì chính là một cái tên khác của thể loại tiểu thuyết ở thời nhà Đường. Truyện truyền kì đặc biệt nở rộ trong thời nhà Đường, được coi là một dấu mốc rực rỡ cho sự phát triển của văn xuôi Trung Quốc cổ đại. Đây được coi là sự tiếp nói của tiểu thuyết chí quái, chí di đời Lục triều Có thể chia sự phát triển của truyền kì Đường làm ba giai đoạn: sơ thịnh Đường, trung Đường, văn Đường.
Giai đoạn sơ thịnh Đường được coi là thời kì quá độ của thể loại này từ truyện chí quái, chí dị thời Lục triều. Giai đoạn này, các sáng tác truyền kì tương đối ít, nghệ thuật cũng chưa chín muổi, chủ yếu viết về những chuyện ma quỷ, quái dị. Sáng tác nổi bật thời kì này có Cổ kính kí của Vương Độ, Du tiên quật của Trương Trạc (Thóc). Giai đoạn trung Đường là thời kì mà truyền kì Đường đặc biệt hưng thịnh.
Dé tai rất phong phú, từ chuyện tình yêu, lịch sử, chính trị cho đến chuyện thần tiên, mộng ảo, hiệp nghĩa. Tác phẩm tiêu biểu thời kì này có Nhậm thị truyện của Thẩm Kí Tề, Liếu Nghị truyện của Lý Triêu Uy, Lý Ow truyện của Bạch Hành Giản, Oanh Oanh truyện của Nguyên Chẩn, Hoắc Tiểu Ngọc truyện của Tưởng Phòng. Văn Đường là thời kì suy thoái của truyện truyền kì, tuy nhiên thời kì này vẫn xuất hiện. những tác phẩm rất có giá trị như Cam trạch dao của Viên Giao, Truyền kì của Bùi Hình.
Nam, truyện truyền kì xuất vào khoảng thế ki XII, XIV và kết thúc vai trò lịch sử của nó vào khoảng nửa cuối thế kỉ XIX. Riptin khẳng định: “Thể loại trong văn học trung đại là một phạm trù chủ đạo được thể hiện trong cách thường xuyên nêu bật nó lên ở ngay tên gọi tác phẩm”, thể loại truyền kì xuất hiện rõ rệt ở ngay 94 GIAO TRINH BOC VAN (LÍ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU TAC PHAM VAN HOC. tên gọi, như Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm), Tân truyền kì lục (Phạm Quý Thích). Dưới sự ảnh hưởng của văn học cổ đại Trung Quốc, các nhà văn trung đại Việt Nam bước đầu đã có ý thức định danh thể loại.
Có thể nói, các thành tựu nổi bật nhất của văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam chủ yếu tập trung ở truyện truyền kì. Cùng có nguồn gốc từ văn học cổ đại Trung Quốc với ki, hich, cáo chiều, biểu, tiểu thuyết chương hỏi. nhưng có lẽ, truyện truyền kì là thể loại tiếp biến mạnh mẽ nhất. Trong số các tác phẩm nói trên, nổi tiếng nhất phải kể đến chính là Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ với 20 truyện tập hợp trong bốn quyền.
(2) Đặc điểm thể loại 'Văn bản truyền kì là loại văn bản tự sự, vì vậy khi đọc loại văn bản này phải chú ý hai vấn đề cốt lõi của nó là cốt truyện và nhân vật. Tuy nhiên, kim chỉ nam cho việc đọc truyện truyền kì chính là chữ “kì”. Nói cách khác, yếu tó kì chính là tiêu chí trọng yếu của truyện truyền kì. Cái Kì (ở Việt Nam, khái niệm này được chuyển dẫn thành cái kì ảo, kì lạ hoặc yếu tố kì ảo, kì lạ) trong truyện truyền kì là phương tiện khúc xạ cái thực khiến cho kì - thực song trùng.
Đây cũng chính là tư duy triết học, tư duy thẩm mĩ nhị nguyên quen thuộc của văn hóa Trung Hoa cổ đại. Đọc truyện truyền kì có thể chú ý đến ba yếu tố: sự kiện kì lạ; nhân vật kì lạ; ngôn ngữ, các thủ pháp kì lạ. Cái kì sẽ trở thành hệ quy chiều để tìm hiểu các vấn đề then chốt của thể loại này. Cốt truyện hiểu đơn giản là một hệ thống sự kiện, biến có, hành động trong tác phẩm tự sự và tác phẩm kịch, thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các tính cách trong một hoàn cảnh nhất định nhằm thể đề, tư tưởng của tác phẩm.
Chuỗi s kiện làm nên cốt truyện của truyện truyền kì mang đặc trưng của những “kì sự” (sự kiện kì lạ). Các sự kiện của truyện truyền kì thường được tổ chức theo mô hình: các sự kiện tỉnh” xoay quanh một sự kiện chính, thường là một cuộc kì ngộ, một chuyện tình, một vụ kiện, một bữa tiệc, một chuyện ghen tuông. Tay pháp loại hình”, Tạp chí Ngiên cứu Vấn lọc, số 2, năm 1974- Dẫn theo Nguyễn Đăng Na, (HƯƠNG lII: ĐỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI 95 mô hình chuỗi sự kiện có vẻ đơn giản nhưng chính các sự kiện mang tính chất biến cố đã làm cho cốt truyện cũng như nhân vật trở nên hap dẫn, sinh động. Nhân vật của truyện truyền kì chủ yếu là nhân vật kì lạ và nhân.
vat phàm tran. Nhân vật kì lạ trong truyện truyền kì Trung Quốc cũng, như Việt Nam đều rất phong phú. Đó là những nhân vật siêu năng, điện mạo phi phàm, hành tung kì lạ. Loại nhân vật này là sự khúc xạ bức tranh hiện thực đồng thời phản ánh khát vọng, ước mơ của con người đương thời.
Họ có thể là tỉnh cây, hương hồn phiêu dạt của các loài hoa cỏ (Chuyện kì ngộ ở trại Tầu), là các nàng tiên của cối bất tử (Chuyện Từ Thức lắu oợ tiên), cũng có thể là những nhân vật bí ẩn nơi thủy cung (Chuyện đối tụng dưới Long cung). Loại nhân vật thứ hai là nhân vật phàm trần. Loại nhân vật này tuy không có năng lực siêu nhiên, không có xuất thân kì lạ nhưng hẳu hết đều gắn bó với thế lực kì lạ và vì thế có phận dị thường. Đối với cả hai loại nhân vật, mô típ “xuyên không” (dịch chuyển giữa hai thể giới thực và ảo) và “li hồn” trở nên rất phổ biến trong truyện truyền kì.
Chuyện Từ Thức lấy oợ tiên (nhân vật lạc vào côi tiên), Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (nhân vật xuống âm phủ gặp Diêm Vương) là những ví dụ tiêu biểu. Số phận lạ lùng của các nhân vat pham trần cũng là phương thức khắc họa điện mạo bức tranh hiện thực xã hội và chuyển tải ước mơ của con người. Do đó, kì mà thực, thực mà kì, kì - thực song trùng, đó là nguyên lí đặc thù của truyện truyền kì 'Yếu tố then chốt thứ ba làm nên truyện truyền kì chính là thủ pháp. hư cấu và tưởng tượng.
Truyền thống “phi kì bắt truyền” của văn xuôi Trung Quốc đã khiến cho bút pháp kì ảo có sức sống lâu bẻn.