mở đầu và kết thúc, thể hiện chủ đẻ thống nhất. Văn bản văn học khác với văn bản phi văn học như văn bản báo chí, văn bản. lịch sử, văn bản triết học. Văn bản văn học có những đặc trưng sau: Văn bản văn học sử dụng các biện pháp tu từ nhằm tạo ra một thế giới nghệ thuật sống động.
Cho nên, ngôn từ trong văn bản văn học thường là ngôn từ đa nghĩa, giàu hình ảnh, những cách nói mới lạ, vừa tác động vào lí trí, vừa tác động vào tình cảm. Khi tìm hiểu văn bản văn học, cản chú ý đến “tính văn học”, tính “lạ hóa” trong sử dụng ngôn từ. 'Văn bản văn học mang tính hư cấu. Trong nghiên cứu văn học, các nhà nghiên cứu thừa nhận đặc điểm chung của văn bản văn học là tính hư cầu.
Văn bản văn học tạo nên một thế giới giống thực nhưng chỉ là mô hình của thể giới hiện thực. Trong thể giới nghệ thuật do văn bản ngôn từ tạo nên, mọi thứ đều là sản phẩm của sáng tạo, từ nhân vật, sự kiện, hình ảnh cho đến người kể chuyện, nhân vật trữ tình. Ngay cả những văn bản viết về sự kiện, nhân vật có thật trong đời sống cũng luôn có những yếu tố hư cấu. Văn bản văn học chứa đựng nhiều khoảng trồng và điểm bất định, tạo thành kết cấu vẫy gọi sự tiếp nhận của người doc.
Van ban văn học là hệ thống kí hiệu thẩm mĩ nhiều tẳng bậc. Cấu trúc của một kí hiệu bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Hoạt động sáng tạo văn bản văn học là hoạt động sáng tạo các kí hiệu nghệ thuật nhằm mã hóa những ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Ngôn từ biểu đạt hình.
tượng, đến lượt nó, hình tượng lại biểu đạt ý nghĩa. Sự xếp chồng các kí đã góp phản tạo nên tính đa nghĩa của văn bản văn học. Văn bản văn học không phải là một hệ thông khép kín, mà là hệ thống kí hiệu vừa có liên kết nội tại tạo thành thể thống nhất tự đủ, vừa có khả năng hướng tới những liên hệ bên ngoài, gợi liên tưởng. Từ góc độ này, văn bản văn học là sự thống nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, cái được biểu 16 '6IÁ0 TRÌNH ĐỌC VĂN (LÍ THUYẾT VÀ THỰC HANH ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC.
Theo quan niệm của Roman Ingarden trong công trình Tác phẩm van học nghệ thuật, văn bản văn học có kết cầu bồn tẳng: tẳng ngữ âm, tầng ý nghúa, tẳng khách thể được tái hiện và tầng phương thức thể hiện khách thể. Trong đó, tằng ngữ âm là tẳng cơ bản nhất của văn bản văn học, là cơ sở vật chất của ba tầng khác. Khi khảo sát tằng ngữ âm, chúng ta có thể khảo sát từ ngữ, vần, nhịp, điệu, trùng điệp. Tầng ngữ âm được tổ.
chức khác nhau tùy theo từng thể loại, mục đích sáng tác. Tầng ngữ âm có quan hệ mật thiết với tầng ý nghĩa, bởi vì ý nghĩa phải dựa vào ngữ âm để tồn tại. Ý nghĩa của văn bản văn học có nhiều cấp độ khác nhau, có ý nghĩa của từng chữ, có ý nghĩa của từng từ, có ý nghĩa của từng câu, của toàn bộ văn bản, và trong tương quan giữa chúng cũng nảy sinh ý nghúa mới. Tầng khách thể được tác giả hư cấu và thể hiện trong văn bản, nó có “hình thái bên ngoài” của hiện thực, nhưng không phải là hiện thực, mà chỉ là mô phỏng đặc điểm của hiện thực mà thôi.
Nó được tạo nên bởi hình ảnh, biểu tượng, nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh. Khách thể được tái hiện trong văn bản mang nhiều “điểm không xác định”, ý nghĩa của nó cũng không xác định và luôn mở ra trong sự tiếp nhận. Tầng ý nghúa bao gồm để tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng, ý nghĩa thẩm mĩ. Đây là tầng sâu của văn bản, do tầng ngữ âm và tầng hình tượng thể hiện ra.
Tầng phương thức thể hiện khách thể hướng tới chủ thể tiếp nhận, chờ. đợi người tiếp nhận đến biến “mạng liên kết” đầy điểm không xác định thành những hiện tượng cụ thể phong phú sinh động. Trên cơ sở quan niệm của Roman Ingarden, có thể hiểu giản đơn hơn vẻ kết cầu của văn bản văn học như sau: văn bản văn học có kết cau ba tang, bao gdm: tang bề mặt, tang ẩn ý và tằng phong cách (phong cách văn bản, trào lưu, nhà văn). Xác định được cấu trúc văn bản văn học giúp người đọc có định hướng trong tiếp nhận văn bản văn học.
Chủ thể người đọc và các cấp độ của đọc văn Nghiên cứu về đọc văn, áp đặt máy móc hiện thực đời sống hay tuyệt đối hóa vai trò chủ thể của người đọc, hoặc qué dé cao tinh tự trị của văn bản văn học đều là những quan niệm sai lắm. Trong quá trình đọc văn luôn diễn ra sự tương tác, đồng hóa, điều tiết giữa chủ thể người (HƯƠNG |: NHỮNG VẤNĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 17 không thể tùy tiện lí giải văn bản tác phẩm. Người đọc cần phải tôn trọng cầu trúc khách quan của văn bản. Chỉ khi khám phá ra tầng ẩn ý, tầng phong cách của văn bản, người đọc mới có thể nâng cao tầm đón nhận, kinh nghiệm nghệ thuật, năng lực thẩm mĩ.
của mình, và khi đó, việc đọc văn mới thực sự có giá trị. Nếu sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau, như đọc điễn cảm, phát vấn, đối thoại, sân khấu hóa, sử dụng phương tiện trực quan. mà xa rời văn bản, không thấy được hình tượng trong văn bản, ần ý trong văn bản, thì việc đạy học văn chỉ là đi tìm những mô hình sẵn có trong kinh nghiệm, tâm lí của người học mà thôi. Vì vậy, khi tìm hiểu vấn đề đọc văn, chúng ta vừa phải chú ý đến kết cầu nội tại của văn bản, lại vừa phải chú ý đến chủ thể người đọc.
Chủthểngười đọc Khi tìm hiểu chủ thể người đọc cần quan tâm đến vấn đẻ “tầm đón nhận”. “Tầm đón nhận” là một khái niệm quan trọng của Mĩ học tiếp nhận trường phái Konstanz Đức. Các nhà Hiện tượng học hiện đại thừa nhận vai trò của tầm đón nhận trong tiếp nhận văn học, họ gọi đó là “tiền Tí giải”, là “thiên kiến”. Hans Georg Gadamer tuyên bó: “Điều kiện quan trọng nhất trong tất cả mọi điều kiện của giải thích học là tiền lí giải.
Ông cho rằng, thiên kiến tồn tại ngay trong quá trình lí giải, là điều kiện quan trọng để hành động lí giải được tiến hành. Hans Robert Jauss kế thừa tư tưởng của Hiện tượng học hiện đại, cho rằng, trước khi tiếp nhận. một tác phẩm văn học, người đọc bao giờ cũng đã có những hiểu biết nhất định về đề tài, thể loại, hiểu biết về sự khác biệt giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ đời thường. Nhưng vẻ sau các nhà nghỉ cứu đã mở rộng, nội hàm của thuật ngữ này, coi tầm đón nhận bao gồm tắt cả những hiểu biết vốn có của con người trước khi tiếp nhận một tác phẩm, bao gồm cả sở thích, hứng thú, kinh nghiệm sống.
Nếu như khoảng cách giữa tầm. đón nhận của người đọc và tầm đón nhận của tác phẩm quá xa (quá thấp hoặc quá cao) thì người đọc cũng không hứng thú với tác phẩm. Chỉ khi tác phẩm nằm giữa quen và lạ, tức là ở khoảng cách giữa tằm đón nhận. Hans-Georg Gadamer, Châu lí oà phương pháp, Hồng Hán Đỉnh địch sang tiếng Trung, NXB 18 GIAO TRINH BOC VAN (LI THUYET VATHUC HANH ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC.
của người đọc và tầm đón nhận của tác phẩm vừa phải thì sự tiếp nhận mới thực sự diễn ra. Tâm đón nhận có vai trò quan trọng trong tiếp nhận văn bản văn học, nó chỉ phối mức độ lí giải và hứng thú đối với văn bản văn học. Khi đọc một văn bản văn học, người đọc thường lí giải văn bản trên cơ sở những hiểu biết của mình về đề tài, thể loại, ngôn ngữ văn. học, thậm chí là trên cơ sở kinh nghiệm sống, kiến thức văn hóa khác.
Đánh t tiểu thuyết, một bài thơ, người đọc thường căn cứ trên đặc trưng thể loại mà mình đã biết, xem trình độ ngôn ngữ của tác phẩm đạt đến mức độ nào thường căn cứ trên hiểu biết về ngôn ngữ văn học của mình; và thường liên tưởng đến những tác phẩm có cùng đề tài, chủ đề, liên tưởng đến những nhân vật văn học khác mà mình đã từng đọc, liên tưởng đến những gì xảy ra trong cuộc đời mình. Kinh nghiệm sống và. kinh nghiệm nghệ thuật là tiền đề quan trọng trong hoạt động tiếp nhận văn học. Trong dạy học văn, giáo viên cẳn nắm được tắm đón nhận của học sinh, bồi đưỡng tầm đón nhận cho học sinh, trên cơ sở đó mới có thể tổ chức tốt hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học.
Ngoài tắm đón nhận, tâm thế đọc cũng ảnh hưởng khá nhiều đến hiệu quả tiếp nhận tác phẩm văn học. Trên cơ sở tằm đón nhận, hoạt động tiếp nhận bao giờ cũng gắn với một tâm thé tiếp nhận nhất định. Tâm thế tiếp nhận là trạng thái tâm lí của mỗi cá nhân khi tiếp nhận tác phẩm văn học. Tâm trạng của con người trong đời sống vô cùng.
phức tạp, muôn màu, có vui, có buồn, có hân hoan, có ức chế. Tâm thế tiếp nhận ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tiếp nhận. Vui, buồn, hân hoan hay ức chế đều khiến việc tiếp nhận tác phẩm bị ảnh hưởng. Do đó, tâm thế lí tưởng nhất để tiếp nhận tác phẩm văn học là tâm thế thư thái, tâm thế mà các học giả Trung Quốc cổ đại gọi là “hư tĩnh”.
Đối với dạy học văn, chuẩn bị tâm thế tiếp nhận cho học sinh cũng là điều hết sức quan trọng. Tránh làm cho học sinh cảm thấy ức chế, mệt mỏi, tạo cảm giác thoải mái cho học sinh là cơ sở quan trọng để tiền hành mỗi giờ dạy học văn. ác ấp độ của đọc vẫn Hoạt động đọc văn bản văn học diễn ra rất đa dạng, phức tạp. Hans (HƯƠNG |: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 19 văn bản văn học thành ba cấp độ.
Dựa trên lí thuyết của Jauss và căn cứ vào đặc điểm của văn bản văn học cũng như thực tế đọc văn, chúng ta có thể khái quát hoạt động đọc thành các cấp độ cụ thể như sau: Khi tiếp xúc với văn bản văn học, trước mắt người đọc chỉ là văn bản ngôn từ, người đọc không thấy bat kì một đường nét, màu sắc, hình ảnh, âm thanh nào cả. Cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa người đọc và văn bản văn học là tiếp xúc với ngôn từ.