LỜI MỞ ĐẦU Từ những thập niên cuối của thế kỷ XX ngành Điều dưỡng Việt Nam đã được cấu trúc lại và phát triển với tốc độ nhanh chóng đang và sẽ đạt đến khả năng cung cấp dịch vụ điều dưỡng có chất lương cao, đáp ứng với nhu cầu về thể chất, tinh thần, xã hội, đóng góp vào nguồn lực con người cho công cuộc đổi mới hiện nay. Khoa học Điều dưỡng đã từng bước phát triển một cách chắc chắn, vừa đảm bảo được đặc tính của Việt Nam và hội nhập với quốc tế. Cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội của đất nước, tuổi thọ trung bình của Việt Nam đang tăng cao làm dịch chuyển dân số theo hướng già hóa khá nhanh. Số lượng người cao tuổi của Việt Nam được dự báo sẽ tăng nhanh trong thập kỷ này và sẽ là một thách thức với nền kinh tế và phạm vi chăm sóc sức khỏe của ngành Y tế Việt Nam.
Với các đòi hỏi cấp bách như vậy, Việt Nam đang và sẽ cần một đội ngũ nhân lực Y tế trong đó phần lớn là điều dưỡng phải được chuẩn bị và đào tạo một cách hệ thống, bài bản và được chuẩn hóa theo quốc tế để có thể cung cấp cho thị trường ngoài nước đang có nhu cầu cao hiện nay như Nhật Bản, CHLB Đức và sắp tới là thị trường nhân lực điều dưỡng tại các bệnh viện, trung tâm, viện dưỡng lão công lập và tư nhân tại Việt Nam. Công tác đào tạo điều dưỡng chuyên ngành người cao tuổi tại Việt Nam hiện còn rất nhiều bất cập. Thời lượng dành cho môn học này thường rất ít, nội dung các chương trình đào tạo, đề cương chi tiết và các chuẩn đầu ra của môn học này cũng chưa được chú trọng một cách hợp lý. Các tài liiệu học tập phần lớn được các chuyên gia biên soạn trên nền tảng của bác sỹ đa khoa nên có rất nhiều điều bất cập.
Vấn đề lớn nhất hiện nay trong đào tạo điều dưỡng từ trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học là nội dung học tập được biên soạn theo lăng kính của bác sỹ y khoa, hàm lượng về khoa học điều dưỡng chiếm rất ít. Cấu trúc một bài học điều dưỡng lâm sàng thường có 6 nội dung thì trong đó có 5 nội dung về bệnh học: bệnh căn, bệnh sinh, chẩn đoán y khoa, bệnh học lâm sàng, sử dụng thuốc và chăm sóc điều dưỡng. Trong phần chăm sóc điều dưỡng cũng đề cập đến 5 bước của quy trình điều dưỡng xong các bước quan trọng nhất là nhận định và chẩn đoán điều dưỡng còn rất sơ sài. Danh mục chẩn đoán theo NANDA (Hiệp hội chẩn đoán điều dưỡng Bắc Mỹ) chưa được áp dụng vào môi trường của Việt Nam.
Quy trình điều dưỡng chưa được coi là chuẩn nghề của ngành điều dưỡng, nên chức năng, nhiệm vụ của người điều dưỡng chưa được phát huy đầy đủ. Đề góp phần nâng cao chất lượng đào tạo điều dưỡng về lĩnh vực điều dưỡng, khoa Điều dưỡng Đại học Đại Nam đã xác định Điều dưỡng người cao tuổi sẽ là một trọng tâm phấn đấu để đạt đến chuẩn khu vực ASEAN. Các công việc đang tập trung đổi mới về nội dung và phương pháp học tập, đánh giá sinh viên. Cuốn giáo trình “Điều dưỡng người cao tuổi” được biên soạn để giúp cho đạt được mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.
Cấu trúc trong một bài tập trung chủ yếu vào nhận định điều dưỡng, chẩn đoán điều dưỡng và các lưu ý, đặc điểm về dinh dưỡng, liệt kê danh mục thuốc sử dụng, chế độ dinh dưỡng, các kiến thức cốt lõi. Cuối các bài đều có bài tập tình huống và câu hỏi biện chứng. Trong quá trình biên soạn, sách vẫn còn một số khiếm khuyết không thể tránh khỏi, chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của tất cả các bạn đồng nghiệp và quý độc giả để cuốn sách được hoàn thiện hơn. 4 Xin trân trọng cảm ơn.
ĐẠI DIỆN NHÓM BIÊN SOẠN ThS. Lê Văn Duy 5 BÀI 1. THAY ĐỔI LÃO HÓA THƯỜNG GẶP MỤC TIÊU Sau khi học xong bài này sinh viên có khả năng: 1. Liệt kê các thay đổi thay đổi theo tuổi và tổ chức: hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, thần kinh, sinh sản, cơ xương, nội tiết, điều hòa nhiệt, da và niêm mạc, miễn dịch, giác quan, điều hòa thân nhiệt.
Mô tả các thay đổi về tinh thần theo tuổi. Thảo luận nguy cơ và các đặc điểm thay đổi liên quan đến già hóa. NỘI DUNG Cuộc sống là một quá trình già liên tục từ trẻ sơ sinh đến lúc về già. Sự phát triển dần theo giới nam và nữ, vị thành niên và thành người trưởng thành có trách nhiệm.
Tiếp tục thay đổi cho đến cuối đời là một quá trình tự nhiên. Các trải nghiệm về loại, tần số, mức độ, thay đổi về thể chất, tinh thần, xã hội từ trẻ vị thành niên đến trưởng thành là các trải nghiệm do ảnh hưởng của yếu tố di truyền, môi trường, chế độ ăn, sức khỏe stress, cách sống và nhiều yếu tố khác. Kết quả của người cao tuổi (NCT) còn có đa dạng về mẫu hình già hóa các hệ thống trong cơ thể trong từng cá nhân con người. Thay đổi trong cơ thể 1.
Tế bào Thay đổi cơ quan hay hệ thống thường ở mức độ tế bào. Số lượng tế bào giảm dần làm giảm chức năng của khối cơ thể, tăng mỡ vào tuổi 60. Tổng số mỡ trong cơ thể tăng (Gallager, 2010). Khối cơ thể và xương giảm xuống.
Dịch ngoại bào giảm đi và làm cơ thể mất nước là nguyên nhân lớn đối với NCT. Hình dáng bề ngoài Thay đổi về hình dáng bên ngoài rất nhiều. Sự thay đổi và quá trình lão hóa bắt đầu từ những năm 40 tuổi sau đó xuất hiện tóc bạc, rụng tóc và nếp nhăn. Thoái hóa mỡ, da kẽm đàn hồi, mỏng đi được biểu hiện rõ ở vùng tay.
Giảm khối lượng mỡ dưới da làm giảm cách nhiệt làm NCT kém nhậy cảm với nhiệt độ lạnh. Chiều cao giảm xuống khoảng 5 cm vào tuổi 80. Cơ thể co rút do giữ nước, ít chun giãn. Giảm chiều cao còn do các xượng dài co rút.
Thay đổi về thể chất diễn ra từ từ. Sự khác biệt về sinh lý và chức năng làm thay đổi các hệ thống riêng biệt của cơ thể. Hệ hô hấp Sự thay đổi về hệ hô hấp rõ ràng ngay từ mũi. Thay đổi niêm mạc làm giảm tổ chức ở phần dưới mũi làm mũi hơi to ra có thể lệch vách ngăn mũi.
Khi ngủ thường gặp thở bằng miệng nên ngáy to và ngưng thở. Tuyến hạch dưới niêm mạc giảm tiết dịch mũi, làm cho dịch mũi dày hơn, không lấy ra sẽ bị nghẹt mũi. Thay đổi cấu trúc lồng ngực làm giảm hoạt động hô hấp. Canxi hóa làm khí quản hẹp lại, đường kính lồng ngực trước sau tăng lên.
Cơ liên sườn lúc thở ra yếu đi. Trong phổi giảm số lượng lông nhu mô và tăng sản tuyến nhầy khí quản. Phế nang giảm về số lượng và độ đàn hồi vào những năm 60 tuổi. Phổi bị thu nhỏ, cứng hơn dẫn đến phổi kém dãn rộng và giảm khả năng đẩy các vật lạ ra ngoài.
Thể tích và dung tích sống đều bị giảm đi. Hệ tuần hoàn Một số thay đổi thường gặp là do bệnh lý gây nên. Kích thước tim không thay đổi nhiều theo tuổi, tim to liên quan đến các bệnh tim và có thể gây thiểu sản cơ tim. Tâm thất trái hơi phì đại theo tuổi.
Động mạch chủ dãn ra và kéo dài. Van 2 lá bị dày xơ cứng là hậu quả của xơ hóa và giảm chức năng liên quan đến nhiều bệnh tim. Ngoại tâm thu có thể xảy ra liên quan đến rung của cơ tim. Thay đổi sinh lý theo tuổi của hệ thống tim mạch biểu hiện bằng nhiều cách.
Vào những năm tháng trưởng thành cơ tim giảm hiệu quả và sức mạnh, giảm tống máu trong một số bệnh. Tế bào tạo nhịp tim thường không đều và giảm về số lượng làm cho nhịp xoang tăng lên. Giai đoạn co và nghỉ của tâm thất trái bị kéo dài, thời gian tống máu thất trái kéo dài hơn và đòi hỏi lâu hơn để hoàn chỉnh. Khái niệm cốt lõi: giảm hoạt động hô hấp liên quan đến già hóa làm cho NCT có nguy cơ bị viêm phổi đặc biệt khi bất động.
Thông thường người trưởng thành thay đổi trong hệ thống tim mạch rất tốt. Tuy nhiên, NCT thích đi thang máy hơn leo cầu thang, đi xe hơi hơn là đi bộ đường dài. Khi các hoạt động bất thường xảy ra cho tim (đi bộ dưới thời tiết lạnh; nhận tin xấu; chạy đuổi theo xe bus) thì sẽ cảm nhận được hậu quả. Khi NCT gặp phải nhu cầu tăng thêm về tim mạch sẽ thấy sự khác biệt.
Mặc dù tần số tim chưa đạt đến đỉnh như người trẻ, nhưng cơn nhịp nhanh sẽ kéo dài hơn. Thể tích máu có thể tăng để bù cho tình huống này làm tăng huyết áp dù huyết áp có thể ổn định làm xuất hiện nhịp nhanh ở NCT. Tần số tim khi nghỉ không thay đổi. Khái niệm cốt lõi: thay đổi tim mạch thường gặp do yêu cầu bất thường đối với tim.
Khả năng hoạt động thể lực và tiêu thụ oxy tùy theo cá thể từng người. NCT có chức năng tim mạch tốt có thể tương tự với người ở điều kiện bình thường. Mạch máu gồm 3 lớp và từng lớp bị ảnh hưởng bởi quá trình già hóa. Nội mạc mạch máu chịu sự thay đổi trực tiếp gồm xơ hóa, lắng đọng canxi, lipid làm phì đại tế bào.
Các thay đổi này làm vữa xơ động mạch. Lớp giữa của mạch máu cũng bị lắng canxi và giảm chun dãn làm lòng mạch hẹp lại. Chức năng nhạy cảm bị thương tổn làm tăng sức cản ngoại vi dẫn đến tăng áp lực tống máu. Điều đáng quan tâm là mặc dù tăng huyết áp hay gặp ở Mỹ và các nước công nghiệp nhưng thấy số ít xảy ra ở các nước có nền công nghiệp thấp.
Một nghiên cứu cắt ngang về xã hội giúp làm rõ là tăng huyết áp là hậu quả trực tiếp của già hóa hay là các yếu tố khác. Lớp vỏ ngoài của mạch máu không bị ảnh hưởng của quá trình già hóa. Giảm chun dãn động mạch là nguyên nhân chính thay đổi mạch máu tại tim, thận và tuyến yên. Giảm sự nhạy cảm của receptor áp lực làm tăng các vấn đề giảm huyết áp khoảng 20 mmHg trong 1 giờ khi ăn.
Giảm tính đàn hồi của lòng mạch đi kèm với lớp da mỏng đi, giảm mỡ dưới da làm cho áp lực lòng mạch vùng đầu, cổ và tứ chi trở nên tăng cao.