Chương 1: Các khái niệm cơ bản 1.Vật dẫn điện và cách điện.Các hạt mang điện và dòng điện trong các môi trường. Chương 2 : Linh kiện thụ động 1. Chương 3: Linh kiện bán dẫn 1.Khái niệm chất bán dẫn 2.Tiếp giáp P-N; điôt tiếp mặt.Cấu tạo, phân loại và các ứng dụng 3 16 4 12 cơ bản của điôt.Tranzito trường.Diac - SCR - Triac. Chương 4: Các Mạch khuếch đại dùng tranzito 4 1.Mạch khuếch đại đơn.Mạch ghép phức hợp.Mạch khuếch đại công suất Chương 5 : Các mạch ứng dụng dùng BJT 1.Mạch dao động.Kiểm tra định kỳ Cộng: 45 15 29 1 * Ghi chú: Thời gian kiểm tra được tích hợp giữa lý thuyết với thực hành và được tính vào giờ thực hành.
Nội dung chi tiết: 2 BÀI 1: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN Mã bài: 01 Giới thiệu: Nền tảng cơ sở của hệ thống điện nói chung và điện kỹ thuật nói riêng xoay quanh vấn đề dẫn điện, cách điện của vật chất gọi là vật liệu điện. Do đó hiểu được bản chất của vật liệu điện, vấn đề dẫn điện và cách điện của vật liệu, linh kiện là một nội dung không thể thiếu được trong kiến thức của người thợ điện, điện tử. Đó chính là nội dung của bài học này. Mục tiêu: Đánh giá/xác định tính dẫn điện trên mạch điện, linh kiện phù hợp theo yêu cầu kỹ thuật.
Phát biểu tính chất, điều kiện làm việc của dòng điện trên các linh kiện điện tử khác theo nội dung bài đã học. Tính toán điện trở, dòng điện, điện áp trên các mạch điện một chiều theo điều kiện cho trước.Nội dung chính: 2. Vật dẫn điện và cách điện. Vật dẫn điện và cách điện.
Mục tiêu: - Trình bầy được các khái niệm cơ bản, đặc tính về vật dẫn điện, vật cách điện. - Trình bầy được điện trở cách điện của linh kiện điện tử, của mạch điện tử và thông số ghi trên thân linh kiện điện tử 2. Vật dẫn điện và cách điện: Trong kỹ thuật người ta chia vật liệu thành hai loại chính: Vật cho phép dòng điện đi qua gọi là vật dẫn điện Vật không cho phép dòng điện đi qua gọi là vật cách điện Tuy nhiên khái niệm này chỉ mang tính tương đối. Chúng phụ thuộc vào cấu tạo vật chất, các điều kiện bên ngoài tác động lên vật chất Về cấu tạo: Vật chất được cấu tạo từ các phần tử nhỏ nhất gọi là nguyên tử.
Nguyên tử được cấu tạo gồm hạt nhân (gồm proton là hạt mang điện tích dương (+) , neutron là hạt không mang điện) và lớp vỏ của nguyên tử (là các electron mang điện tích âm e-- ). Vật chất được cấu tạo từ mối liên kết giữa các nguyên tử với nhau tạo thành tính bền vững của vật chất. Cấu trúc mạng liên kết nguyên tử của vật chất Các liên kết tạo cho lớp vỏ ngoài cùng có số lượng proton bằng số lượng electron , với trạng thái đó nguyên tử mang tính bền vững và được gọi là trung hoà về điện. Các chất loại này không có tính dẫn điện, gọi là chất cách điện.
Các liên kết tạo cho lớp vỏ ngoài cùng có số lượng proton khác số lượng electron thì trở thành ion, chúng dễ cho và nhận điện tử, các chất này gọi là chất dẫn điện Về nhiệt độ môi trường: Trong điều kiện nhiệt độ bình thường (< 250C) các nguyên tử liên kết bền vững. Khi tăng nhiệt độ, động năng trung bình của các nguyên tử gia tăng làm các liên kết yếu dần, một số e-- thoát khỏi liên kết trở thành e-- tự do, lúc này nếu có điện trường ngoài tác động vào, vật chất có khả năng dẫn điện. Về điện trường ngoài: Trên bề mặt vật chất, khi đặt một điện trường hai bên chúng sẽ xuất hiện một lực điện trường E. Các e-- sẽ chịu tác động của lực điện trường này, nếu lực điện trường đủ lớn, các e-- sẽ chuyển động ngược chiều điện trường, tạo thành dòng điện.
Độ lớn của lực điện trường phụ thuộc vào hiệu điện thế giữa hai điểm đặt và độ dày của vật dẫn. Tóm lại: Sự dẫn điện hay cách điện của vật chất phụ thuộc nhiều vào các yếu tố: Cấu tạo nguyên tử của vật chất Nhiệt độ của môi trường làm việc Hiệu điện thế giữa hai điểm đặt lên vật chất Độ dày của vật chất Vật dẫn điện: vật liệu dẫn điện là vật chất ở trạng thái bình thường có khả năng dẫn điện. Nói cách khác, là chất ở trạng tháI bình thường có sẵn các điện tích tự do để tạo thành dòng điện. Điện trở cách điện của linh kiện và mạch điện tử.
Điện trở cách điện của linh kiện là điện áp lớn nhất cho phép đặt trên linh kiện mà linh kiện không bị đánh thủng (phóng điện). Các linh kiện có giá trị điện áp ghi trên thân linh kiện kèm theo các đại lượng đặc trưng. Ví dụ: Tụ điện được ghi trên thân như sau: 47 /25vV, có nghĩa là giá trị điện dung của tụ là 47 và điện áp lớn nhất có thể chịu đựng được không quá 25v. Các linh kiện không ghi giá trị điện áp trên thân thường có tác dụng cho dòng điện một chiều (DC) và xoay chiều (AC) đi qua nên điện áp đánh thủng có 4 tương quan với dòng điện nên thường được ghi bằng công suất.
Ví dụ: Điện trở được ghi trên thân như sau: 100 / 2W Có nghĩa là giá trị là 100 và công suất chịu đựng trên điện trở là 2W Các linh kiện bán dẫn do các thông số kỹ thuật rất nhiều và kích thước lại nhỏ nên các thông số kỹ thuật được ghi trong bảng tra mà không ghi trên thân nên muốn xác định điện trở cách điện cần phải tra bảng. Điện trở cách điện của mạch điện là điện áp lớn nhất cho phép giữa hai mạch dẫn đặt gần nhau mà không sảy ra hiện tượng phóng điện, hay dẫn điện. Trong thực tế khi thiết kế mạch điện có điện áp càng cao thì khoảng cách giữa các mạch điện càng lớn. Trong sửa chữa thường không quan tâm đến yếu tố này tuy nhiên khi mạch điện bị ẩm ướt, bị bụi ẩm.
thì cần quan tâm đến yếu tố này để tránh tình trạng mạch bị dẫn điện do yếu tố môi trường. Các hạt mang điện và dòng điện trong các môi trường. Mục tiêu: Trình bầy được nội dung các hạt mang điện và dòng điện trong các môi trường 2. Dòng điện trong kim loại.
Do kim loại ở thể rắn cấu trúc mạng tinh thể bền vững nên các nguyên tử kim loại liên kết bền vững, chỉ có các eở trạng thái tự do. Khi có điện trừơng ngoài tác động các esẽ chuyển động dưới tác tác dụng của lực điện trường để tạo thành dòng điện. Vậy: Dòng điện trong kim loại là dòng chuyển động có hướng của các e dưới tác dụng của điện trường ngoài. Trong kĩ thuật điện người ta qui ước chiều của dòng điện là chiều chuyển động của các hạt mang điện dương nên dòng điện trong kim loại thực tế ngược với chiều của dòng điện qui ước.
Dòng điện trong chất lỏng, chất điện phân. Chất điện phân là chất ở dạng dung dịch có khả năng dẫn điện được gọi là chất điện phân. Trong thực tế chất điện phân thường là các dung dịch muối, axit, bazơ. Khi ở dạng dung dịch (hoà tan vào nước) chúng dễ dàng tách ra thành các ion trái dấu.
Vi dụ: Phân tử NaCl khi hoà tan trong nước chúng tách ra thành Na+ và Clriêng rẽ. Quá trình này gọi là sự phân li của phân tử hoà tan trong dung dịch. Khi không có điện trường ngoài các ion chuyển động hỗn loạn trong dung dịch gọi là chuyển động nhiệt tự do. Khi có điện trường một chiều ngoài bằng cách cho hai điện cực vào trong bình điện phân các ion chịu tác dụng của lực điện chuyển động có hướng tạo thành dòng điện hình thành nên dòng điện trong chất điện phân.
Sơ đồ mô tả hoạt động được trình bày ở (hình 1-2). 5 Các ion+ chuyển động cùng chiều điện trường để về cực âm, các ionchuyển động ngược chiều điện trưòng về cực dương và bám vào bản cực. Lợi dụng tính chất này của chất điện phân mà trong thực tế người ta dùng để mạ kim loại, đúc kim loại. Vậy: Dòng điện trong chất điện phân là dòng chuyển dời có hướng của các ion dương và âm dưới tác dụng của điện trường ngoài.
Dòng điện trong chân không. Chân không là môi trường hoàn toàn không có nguyên tử khí hoặc phân tử khí có nghĩa áp suất không khí trong môi trường = 0 at (at : atmôt phe là đơn vị đo lường của áp suất). Trong thực tế không thể tạo ra được môi trường chân không lí tưởng. Môi trường chân không thực tế có áp suất khoảng 0,001 at, lúc này số lượng nguyên tử, phân tử khí trong môi trường còn rất ít có thể chuyển động tự do trong môi trường mà không sảy ra sự va chạm lẫn nhau.
Để tạo ra được môI trường này trong thực tế người ta hút chân không của một bình kín nào đó, bên trong đặt sẵn hai bản cực gọi là Anod và katot. Khi đặt một điện áp bất kì vào hai cực thì không có dòng điện đi qua vì môi trường chân không là môi trường cách điện lí tưởng. Khi sưởi nóng catôt bằng một nguồn điện bên ngoài thì trên bề mặt catôt xuất hiện các ebức xạ từ catôt. Khi đặt một điện áp một chiều (DC) tương đối lớn khoảng vài trăm votl vào hai cực của bình chân không.
Với điện áp âm đặt vào Anod và điện áp Dương đặt vào catôt thì không xuất hiện dòng điện. Khi đổi chiều đặt điện áp; Dương đặt vào Anod và Âm đặt vào catôt thì xuất hiện dòn điện đi qua môi trường chân không trong bình. Ta nói đã có dòng điện trong môi trường chân không đó là các e- bức xạ từ catôt di chuyển ngược chiều điện trường về Anod. Vậy: Dòng điện trong môI trường chân không là dòng chuyển dời có hường của các edưới tác dụng của điện trường ngoài.
Trong kĩ thuật, dòng điện trong chân không được ứng dụng để chế tạo ra các đèn điện tử chân không, hiện nay với sự xuất hiện cả linh kiện bán dẫn đèn điện tử chân không trở nên lạc hậu do cồng kềnh dễ vỡ khi rung sóc va đập, tổn hao công suất lớn, điện áp làm việc cao. Tuy nhiên trong một số mạch điện có công suất cực lớn, tổng trở làm việc cao,hay cần được phát sáng trong qua trình làm việc thì vẫ phải dùng đèn điện tử chân không. Như đèn hinh, đèn công suất. Dòng điện trong chất bán dẫn.