GIAÙO TRÌNH CHÖÔNG TRÌNH TRUNG CAÁP GIAÙO TRÌNH CHÖÔNG TRÌNH TRUNG CAÁP Mục lục. MỤC LỤC Trang 1. Chương trình Dịch tễ học 1 2. Đại cương Dịch tễ học - Quá trình dịch 3 3.
Các bệnh truyền nhiễm mới nổi 18 4. Các phương pháp và công cụ thu thập thông tin 30 5. Các phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 50 6. Đo lường tần suất bệnh trạng: số đo mắc bệnh, số đo tử vong 64 7.
Phương tiện và hóa chất và nguyên lý phòng chống dịch 76 8. Thu thập và bảo quản bệnh phẩm 85 9. Giám sát dịch tễ học 94 10. Các bước điều tra xử lý một vụ dịch 106 11.
Viết báo cáo và trình bày kết quả 117 12. Tài liệu tham khảo 125 Giáo trình Dịch tễ học. Trang 1 Chương trình Dịch tễ học. CHƯƠNG TRÌNH DỊCH TỄ HỌC Mã số môn học: C’.02 Số học phần: 01 Số đơn vị học trình: 03 (2/1) Số tiết: 60 (30/30) Thời điểm thực hiện: Học kỳ 4 Phân bố thời gian: 8 tiết/tuần – tổng số 8 tuần ĐIỀU KIỆN: Học sinh đã học xong chương trình chuyên môn.
Trình bày được các khái niệm và nguyên lý của dịch tễ học. Tính toán được các chỉ số sức khoẻ chủ yếu của cộng đồng. Mô tả được tình hình sức khoẻ và bệnh tật của cộng đồng. Trình bày được chu trình dịch và cách phòng chống, quản lý, xử lý dịch.
NỘI DUNG: Số tiết Tt Nội dung bài học Tổng LT TH 1. Đại cương Dịch tễ học - Quá trình dịch 4 4 0 2. Các bệnh truyền nhiễm mới nổi 4 4 0 3. Các phương pháp và công cụ thu thập thông tin 8 4 4 4.
Các phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 8 4 4 5. Đo lường tần suất bệnh trạng: số đo mắc bệnh, số đo tử vong 10 4 6 6. Phương tiện và hóa chất và nguyên lý phòng chống dịch 4 3 1 7. Thu thập và bảo quản bệnh phẩm 6 2 4 8.
Giám sát dịch tễ học 2 2 0 9. Các bước điều tra xử lý một vụ dịch 8 2 6 10. Viết báo cáo và trình bày kết quả 6 1 5 Cộng 60 30 30 Giáo trình Dịch tễ học. Chương trình Dịch tễ học.
Trang 2 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN: Yêu cầu giáo viên: - Giáo viên là Bác sỹ chuyên ngành Y tế công cộng hoặc đã được huấn luyện chương trình Dịch tễ học. Phương pháp giảng dạy: - Lý thuyết: thuyết trình, áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực. - Thực hành: thực hành tại lớp. Tổ chức nhóm, thảo luận, làm bài tập tình huống.
Có thể xem tranh, Video, Slide. Lớp học chia thành các tổ, mỗi tổ khoảng 10 – 12 học sinh. Trang thiết bị dạy học: - Thực hành: đảm bảo đủ dụng cụ theo cơ số quy định. Đánh giá: - Kiểm tra thường xuyên: 02 cột điểm, bài viết dạng câu hỏi nhỏ.
- Kiểm tra định kỳ: 01 cột điểm, bài tập xử lý tình huống hoặc trắc nghiệm. - Thi kết thúc môn học: bài thi trắc nghiệm 60 câu trong 45 phút Giáo trình Dịch tễ học. Trang 3 Đại cương về dịch tễ học. ĐẠI CƯƠNG VỀ DỊCH TỄ HỌC - QUÁ TRÌNH SINH DỊCH BS.
Nguyễn Văn Thịnh MỤC TIÊU HỌC TẬP 1. Trình bày lịch sử, khái niệm về dịch tễ 2. Trình bày mục tiêu, đối tượng nghiên cứu của dịch tễ học. Mô tả chu trình nghiên cứu dịch tễ học.
Mô tả quá trình sinh dịch, các đặc điểm của dịch. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN DỊCH TỄ HỌC Dịch tễ học là một khoa học y học rất cổ. Từ thời xưa, Hipocrate, là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học này, ông đã đưa ra quan niệm rằng, sự phát triển bệnh tật ở người có thể liên quan đến những yếu tố của môi trường bên ngoài của một cá thể, nhưng vào thời đó và một thời gian dài tiếp theo dịch tễ học đã phát triển rất chậm. Dịch tễ học, được dịch từ một từ tiếng Anh là epidemiology.
Theo từ nguyên, epidemiology bắt nguồn từ 3 từ La tinh, epi có nghĩa là về, demos có nghĩa là dân, và logos là môn học. Như vậy, dịch tễ học là một môn học khảo sát về những hiện tượng xảy ra ở người dân. Vào lúc khởi thủy trong lịch sử phát triển của dịch tễ học, những hiện tượng đó là những hiện tượng xảy ra hàng loạt, và lây lan từ người này sang người khác trong một tập thể vào một thời điểm nào đó, thí dụ như một trận dịch hạch, dịch tả. Nói một cách khác, lúc ban đầu, dịch tễ học chỉ nghiên cứu những bệnh lây thành dịch.
Chính vì thế, cho đến nay, còn không ít người vẫn hiểu lầm rằng dịch tễ học chỉ quan tâm đến những bệnh truyền nhiễm. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của y khoa, những nhà khoa học đã nhận ra rằng có những bệnh vẫn xảy ra hàng loạt ở con người, nhưng không lây từ người này sang người khác, thí dụ, ung thư phổi, xơ vữa động mạch, tai nạn giao thông, bướu cổ. Bằng cách áp dụng những phương pháp nghiên cứu của dịch tễ học, các chuyên gia trong ngành y đã xác định được những nguyên nhân, hay những yếu tố đã tạo điều kiện khiến cho con người mắc những bệnh không lây nói trên, và từ đó, đề ra những biện pháp phòng chống rất hiệu quả. Khi mô tả về bệnh, hoặc nói chung là những hiện tượng sức khỏe, nhà dịch tễ học không chỉ diễn tả một cách chung chung rằng bệnh đã xảy ra nhiều hay ít trong một tập thể người, mà cụ thể hơn, họ sẽ cho thấy những tần số và tỷ lệ bệnh ở những nhóm người có những thuộc tính đặc biệt, cư ngụ tại một khu vực riêng biệt, và vào một thời điểm nào đó trong năm.
Giáo trình Dịch tễ học. Trang 4 Bệnh là một quá trình biến đổi từ trạng thái sinh lý bình thường đến một mức độ làm thay đổi chức năng của một bộ phận hoặc một cơ quan trong cơ thể con người. Tuy nhiên, y khoa không chỉ nghiên cứu bệnh tật mà còn quan tâm đến những hiện tượng liên quan đến bệnh tật. Ung thư phổi là một bệnh có tử vong rất cao, thường xảy ra ở những người hút thuốc lá.
HIV/AIDS thường gặp ở gái mại dâm, những người mua dâm, những người nghiện ma túy sử dụng chung bơm kim tiêm. Tiêu chảy thường gặp ở những trẻ em không có thói quen rửa tay trước khi ăn, và sau khi đi cầu. Hút thuốc lá không phải là bệnh tật mà là một hiện tượng có liên quan đến bệnh ung thư phổi, cũng như mại dâm, ma túy đối với HIV/AIDS, và hành vi không rửa tay đối với bệnh tiêu chảy. Hút thuốc lá, mại dâm, ma túy, và những hành vi kém vệ sinh là những hiện tượng liên quan đến sức khỏe.
Cũng có những nguyên nhân để những hiện tượng này xảy ra hàng loạt ở một tập thể người vào một thời điểm nào đó, và dịch tễ học cũng nghiên cứu những nguyên nhân gây những ra hiện tượng này. Để đi tới được quan niệm dịch tễ học hiện đại như hiện nay, lịch sử phát triển của dịch tễ học trải qua nhiều thời kỳ, nổi bật nhất là ba cột mốc đánh dấu những giai đoạn phát triển đặc biệt góp phần hình thành cơ sở phát triển của dịch tễ học hiện đại. - John Graunt là người đầu tiên đã định lượng các hiện tượng sức khỏe và bắt đầu chú ý rằng tần số mắc bệnh khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau, giới tính khác nhau. - Năm 1893 William Farr đã thiết lập một hệ thống đếm số chết và nguyên nhân chết.
Ông đã đóng góp rất nhiều cho việc hình thành về phương pháp nghiên cứu dịch tễ học hiện đại như định nghĩa quần thể có nguy cơ, phương pháp so sánh giữa các đối tượng khác nhau, chọn nhóm so sánh thích hợp và rất coi trọng đến các yếu tố có thể liên quan đến tình trạng sức khoẻ như tuổi, thời gian phơi nhiễm. Farr, có John Snow là người đầu tiên đưa ra giả thuyết về một yếu tố bên ngoài có liên quan chặt chẽ với một bệnh. Snow là người đầu tiên đã nêu đầy đủ các thành phần của định nghĩa dịch tễ học, và đã quan niệm đúng đắn về một đề cập dịch tễ học, mà dịch tễ học hiện đại đang sử dụng ngày nay để không những hình thành một giả thuyết mà còn kiểm định giả thuyết đó nữa. Từ đó đến nay, với sự phát triển mạnh mẽ của các khoa học cơ bản và y học cơ sở, dịch tễ học đã có thể cung cấp những phương pháp tin cậy trong việc nghiên cứu của tất cả các lĩnh vực y học.
Thành tựu đáng chú ý nhất là các phương pháp thiết kế nghiên cứu dịch tễ học, và các kỹ thuật thu thập và phân tích các dữ kiện dịch tễ, đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc đánh giá vai trò của các yếu tố nguy cơ đối với các bệnh mạn tính và hiệu quả của các biện pháp can thiệp điều trị và dự phòng. Giáo trình Dịch tễ học. Trang 5 Đại cương về dịch tễ học. Với sự phát triển của máy vi tính, các kỹ thuật và phương pháp dịch tễ học ngày nay có thể triển khai trên những quy mô rộng lớn đối vơí nhiều vấn đề sức khoẻ khác nhau đã làm tăng độ chính xác và độ tin cậy của các công trình nghiên cứu dịch tễ học trong mọi lĩnh vực y tế tiến hành trên quần thể người, góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng ngay cả trước khi những cơ chế xuất hiện và lan truyền một vấn đề sức khoẻ nào đó chưa được biết rõ.
KHÁI NIỆM DỊCH TỄ HỌC Từ trước đến nay, cùng với sự phát triển của dịch tễ học, đã có nhiều định nghĩa về môn học này, mỗi định nghĩa đánh dấu một bước phát triển ở thời kỳ đó. Tháng 10/1980, tại Manila, Tổ chức y tế thế giới đưa ra định nghĩa: Dịch tễ học là một khoa học nghiên cứu sự phân bố sức khỏe và bệnh tật của con người, lý giải sự phân bố đó nhằm làm cho các dịch vụ y tế hoạch định có cơ sở, việc giám sát bệnh tật được thực hiện và các chương trình phòng chống, khống chế bệnh tật được triển khai và có thể đánh giá được. Định nghĩa này cho thấy dịch tễ học có 3 thành phần liên quan mật thiết với nhau: tần suất bệnh, sự phân bố bệnh tật và các yếu tố quy định sự phân bố bệnh tật. Tần suất bệnh: Tần suất bệnh cho phép nhà dịch tễ định lượng về bệnh tật có tồn tại hoặc đang xảy ra thế nào trong cộng đồng.