mở đầu: KHÁI NIỆM CHUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI KỸ THUẬT Ô TÔ Chẩn đoán trạng thái kỹ thuật của ô tô buộc phải áp dụng để đánh giá cho tất cả các hãng xe trên toàn thến giới. Các chuyên gia các kỹ thuật viên đều sử dụng các phương pháp chẩn đoán cơ bản cho nhiều dòng ô tô khác nhau hay chuyên cho một dòng tùy theo phần mềm. Sinh viên phải nắm các kiến thức chẩn đoán ô tô để ứng dụng vào nghề công nghệ ô tô. Mục tiêu bài: - Phát biểu đúng các khái niệm chung về chẩn đoán trạng thái kỹ thuật ô tô - Giải thích và phân tích đúng các thông số kết cấu và thông số chẩn đoán - Phân biệt các phương pháp chẩn đoán trạng thái kỹ thuật ô tô - Chấp hành đúng quy trình, quy phạm trong nghề công nghệ ô tô - Rèn luyện tính kỷ luật, cẩn thận, tỉ mỉ của học viên.
Nội dung bài: I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI KỸ THUẬT Ô TÔ 1. Khái niệm về chẩn đoán kỹ thuật Chẩn đoán là công tác kỹ thuật nhằm xác định trạng thái kỹ thuật của cụm máy để dự báo tuổi thọ làm việc tiếp tục mà không phải tháo máy. Các định nghĩa trong chẩn đoán kỹ thuật ô tô Hệ thống chẩn đoán là hệ thống tổ chức được tạo nên bởi công cụ chẩn đoán và đối tượng chẩn đoán với mục đích xác định trạng thái kỹ thuật của đối tượng chẩn đoán.
Qua việc xác định trạng thái có thể đánh giá chất lượng hiện trạng, những sự cố đã xảy ra và khả năng sử dụng trong tương lai. Hệ thống chẩn đoán có thể đơn giản hay phức tạp. Chẳn hạn như hệ thống chẩn đoán được tạo nên bởi người lái ô tô, hay bởi thiết bị chẩn đoán điện tử cùng với phần mềm hiện đại với ô tô. Công cụ chẩn đoán là tập hợp các trang bị kỹ thuật, phương pháp trình tự tiến hành đo đạc, phân tích đánh giá tình trạng kỹ thuật.
Công cụ chẩn đoán có thể là trang bị kỹ thuật có sẳn của đối tượng chẩn đoán, hay các trang bị độc lập, Nó có thể bao gồm: Các cảm nhận của con người, sự phn tích đánh giá của các chuyên gia, và cũng có thể là các cảm biến có sẳn trên ô tô, các bộ xử lý, các phần mềm tính toán, chuyển đổi, các màn hình hoặc tín hiệu giao diện. Đối tượng chẩn đoán là đối tượng áp dụng kỹ thuật. Đối tượng chẩn đoán có thể là: một cơ cấu, tập hợp các cơ cấu, hay toàn bộ hệ thống phức hợp. Tình trạng kỹ thuật của đối tượng là tập hợp các đặc tính kỹ thuật bên trong tại một thời điểm, tình trạng kỹ thuật biểu thị khả năng thực hiện chức năng yêu cầu của đối tượng trong điều kiện sử dụng xác định.
7 Trạng thái kỹ thuật được đặc trưng bởi các thông số cấu trúc, các quan hệ vật lý của quá trình làm việc, tức là các đặc tính kỹ thuật bên trong liên quan tới cơ cấu, mối liên kết, hình dáng các quá trình vật lý, hóa học. Việc xác định các thông số trạng thái kỹ thuật nhằm xác định chất lượng chi tiết nói chung tổng thể hệ thống nói riêng là hết sức cần thiết, nhưng lại không thể thực hiện trực tiếp trong quá trình khai thác kỹ thuật. Công nghệ chẩn đoán Công nghệ chẩn đoán được thiết lập trên cơ sở mục đích của chẩn đoán. Chúng ta thường tiến hành chẩn đoán để xác định tình trạng kỹ thuật của ô tô với mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng, song trong hoạt động kinh doanh có thể dùng chẩn đoán để đánh giá chất lượng tổng thể và thiết lập giá thành.
Công nghệ chẩn đoán cũng phụ thuộc vào kinh nghiệm của các chuyên gia (gọi là tri thức chuyên gia), nhất là kinh nghiệm trong chế tạo, khai thác ô tô. Để nâng cao chất lượng chẩn đoán và ít phụ thuộc vào con người, ngày nayhifnh thành công nghệ hoàn thiện do máy móc thực hiện, trong đó phụ thuộc vào con người, ngày nay hình thành công nghệ hoàn thiện do máy móc thực hiện, trng đó sự phân tích đánh giá được sử dụng thông qua tri thức máy ( trí tuệ nhân tạo) trên cơ sở có sẳn tri thức chuyên gia. Công nghệ chẩn đoán phụ thuộc vào đặc điểm khai thác vì vậy tùy thuộc vào tính chất địa lý của từng vùng mà đề ra các chế độ hợp lý như: chu kỳ chẩn đoán, ngưỡng chản đoán. THÔNG SỐ KẾT CẤU, THÔNG SỐ CHẨN ĐOÁN Số lượng các tổng thành, các hệ thống, các khâu và từng chi tiết trong ô tô rất lớn.
Chúng được theo bản vẽ có kít thước và dung sai quy định, có các yêu cầu kỹ thuật cụ thể. Tất cả các chi tiết lắp thành nhóm, cụm khâu, tổng thành, toàn bộ ô tô, được gọi là kết cấu. Mỗi đối tượng chẩn đoán có kết cấu cụ thể, đảm nhiệm một chức năng cụ thể. Tập hợp các kết cấu trên ô tô đảm nhận chức năng di chuyển và vận tải của ô tô.
Kết cấu được đánh giá bằng các thông số kết cấu tại một thời điểm nhất định được gọi là thông số trạng thái ky thuật của kết cấu. Các thông số kết cấu biểu thị bằng các đại lượng vật lý, có thể xác định dược các giá trị của chúng như kít thước (độ dài, diện tích thể tích), cơ (lưc, áp suất, tần số, biên độ), nhiệt (độ, calo) các thông số này xuất hiện khi ô tô hoạt độnghay tồn tại cả khi ô tô không hoạt động. Trong quá trình sử dụng ô tô các thông số kết cấu biến đổi từ giá trị ban đầu Ho nào đó đến giá trị giới hạn Hgh, tức là từ mới đến hỏng, liên quan chặt chẽ với thời gian sử dụng. Trên ô tô thời gian sử dụng thường thay bằng các quảng đường xe chạy.
Một ví dụ về quan hệ này là thông số kết cấu của mộ bộ liên kết bạc trục, thông qua khe hở H trong liên kết với quảng đường xe chạy (Km). Mối tương quan này có thể biểu thị với trục tọa độ xuất phát từ giá trị khe hở ban đầu. Hình: Tương quan giữa thông số kết cấu và quảng đường xe chạy OL1: Quảng đường xe không hỏng, L1 L2 : Quảng đường xe có trục trặc Các giá trên hình cho thấy: Các giá trị trên cho thấy: Trong quãng đường xe chạy OL1 liên kết hoạt động có độ tin cậy cao, giá trị khe hở H biến đổi từ Ho đến Hcp kết cấu không gây nên hư hỏng, độ tin cậy làm việc cao, chất lượng khai thác tốt. Vùng này được coi là vùng làm việc tốt.
9 Trong khoảng L1,L2 tương ứng với giá trị H biến đổi từ Hcp đếm Hgh mối liên kết bị bị lỏng và xuất hiện các sự cố trục trặc như thiếu dầu bôi trơn, có tiếng gõ nhẹ, ma sát tăng dẫn tới nhiệt độ dầu bôi trơn cao hơn bình thường, tổn thất công suất cho ma sát nhiều. Vùng này là vùng làm việc có xuất hiện sự cố không nặng, kèm theo các biểu hiện hư hỏng có thể xác định được. tính chất hư hỏng tăng dần theo quảng đường xe chạy, độ tin cậy nhanh, chức năng của đối tượng khai thác hoàn thành kém. Với ô tô quãng đường xe chạy được L2 trở đi, hư hỏng xuất hiện lớn trên xe, xe không hoàn toàn thành chức năng của nó và vật tư tiêu hao: xăng, dầu tốn nhiều.
Trên hình vẽ đó là vùng hỏng. Giá trị Hgh biểu thị mối liên kết đã không thỏa mãn chức năng của kết cấu mối ghép. Các giá trị đặc trưng trong các giai đoạn làm việc của thông số kết cấu là: Giá trị bamn đầu H0 của thông số kết cấu: đã được tính toán theo yêu caafu kỹ thuật do nhà chế tạo quy định, thường ghi trong bản vẽ hoặc trong các tài liệu hướng dẫn. Trong quá trình sử dụng giá trị các thông số kết cấu có thể tăng hoặc giảm dẫn đến trạng thái kỹ thuật giảm đi, cuối cùng là hỏng.
Trong khai thác thiết bị, giá trị này thường được lấy làm giá tri gốc để so sánh để đánh giá mức độ xấu đi của đối tượng chẩn đoán. Giá trị cho phép Hcp của thông số kết cấu: là ranh giới xuất hiện hư hỏng, máy bắt đầu trục trặc, các tính năng sử dụng bắt đầu giảm, nhưng vẫn còn khả năng làm việc. Giá trị Hcp cho biết độ tin cậy của đối tượng khảo sát hay suy giảm tới mức không còn khả năng sử dụng lâu dài, cần thiết tiến hành tác động kỹ thuật để khôi phục lại trạng thái của đối tượng. Giá trị giới hạn Hgh của thông số kết cấu: Là giới hạn mà đối tượng mất hoàn toàn khả năng làm việc, không thể hoàn thành chứnc ăng tối thiểu quy định.
Nếu tiếp tục sử dụng thì có thể xảy ra các hư hỏng có ảnh hưởng chung tới toàn bộ đối tượng, phải lạp tức đình chỉ sử dụng, hay nói một cách khác là đối tượng đã hết tuổi thọ khai thác. Trong quá trình khai thác, không nên sử dụng cho tới khi giá trị thông số kết cấu vượt quá giá trị Hcp nhưng vì với giới hạn này trong sử dụng biến đổi không thể lường trước, do vậy đôi khi có thể sử dụng vượt quá giá trị này. Ngoài việc đánh giá thông số kết cấu bằng giá trị, trong thực tế có thể dùng các dạng phần tram chất lượng: Ứng với giá trị ban đầu H0 kết cấu được coi là chất lượng 100% Ứng với trạng thái cho phép Hcp kết cấu được coi là 0% chất lượng. Ứng với trạng thái bất kỳ Hx kết cấu được coi là chất lượng % Các giá tri trên được gọi là ngưỡng của thông số kết cấu.
LOGIC TRONG CHẨN ĐOÁN 10 Logic là một nghành khoa học nghiên cứu các quy tắc xây dựng mệnh đề khẳng định đúng sai được rút ra từ các mệnh để khác, tức là nó nghiên cứu sự hình thành các quy luật và hình thái lập luận. Việc sử dụng logic tronh chẩn đoán kỹ thuật giúp con người có khả năng suy luận và nhanh chóng đưa ra các kết luận hợp lý về tình trạng kỹ thuật của đối tượng, bao gồm kết luận: tốt, xấu, hỏng không hỏng. Mặt khác con người dễ dàng tạo nên suy luận lo gisc bằng máy tính, thông qua việc xây dựng mạng trí tuệ nhân tạo dùng trong công tác chẩn đoán tình trạng kỹ thuật. Có thể nói sử dụng luật trong logic thực chất là sử dụng lý lận nhân quả trong việc suy luận.