BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHAT TRIEN NÔNG THÔN TRƯỜNG TRUNG HỌC KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP T. Giaotrinh - CHAN DOAN VA BENH NOI KHOA NHA XUAT BAN NONG NGHIEP HÀ NỘI - 1998 BAI MO DAU (1 gid) I. KHAI NIEM MON HOC 1. Định nghĩa + Chẩn đoán: là một khoa học về khám bệnh.
Nó nghiên cứu các phương pháp để tìm hiểu gia súc trước, trong và sau lúc mắc bệnh, nhằm phát hiện thu thập triệu chứng, phân tích và tổng hợp các triệu chứng để đi đến kết luận chẩn đoán bệnh gì? + Bệnh nội khoa: Bệnh nội khoa gia súc còn gọi là bệnh thông thường, là những bệnh không có tính chất truyền nhiễm, không lây lan từ con này sang con khác. Ví dụ: Viêm ruột là bệnh nội khoa + Diều trị bệnh là dùng mọi biện pháp nhằm giúp cho cơ thể đang mắc bệnh trở về trạng thái thường. Có nhiều phương pháp điều trị cho gia súc như dùng thuốc, dùng nhân tố vật lý, chăm sóc nuôi dưỡng v. Nguyên nhân gây bệnh nội khoa ˆ Bệnh nội khoa xây ra khá phổ biến trong chăn nuôi, đã gây nên những thiệt hại nghiêm trọng.
Nguyên nhân gây nên bệnh nội khoa rất đa dạng và phức tạp. Có những nguyên nhân thuộc về di truyền, nguyên nhân đo chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn uống không đúng khoa học, hoặc đo các nhân tố.vật lý, hoá học, vi sinh vật học, cũng có trường hợp bệnh nội khoa xây ra do kế phát bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng. Phân biệt bệnh nội khoa với các bệnh khác Môn bệnh nội khoa là môn học nghiên cứu các bệnh không lây ở gia súc. Nó có những đặc điểm khác với môn bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng (những bệnh này mang tính chất lây lan mạnh).
Ngoài ra bệnh ngoại khoa cũng nghiên cứu về các bệnh không lây. Đặc điểm của những bệnh này xảy ra chủ yếu ở da và miên mạc. Vi du: - Bệnh viêm phổi là bệnh nội khoa - Bệnh vỡ vai trâu bò là bệnh ngoại khoa, - Bệnh thương hàn là bệnh truyền nhiễm - Bệnh giun đũa là bệnh ký sinh trùng. BỆNH NỘI KHOA LIÊN QUAN VỚI CÁC MÔN HỌC KHÁC Bệnh gia sức ‘ss rất nhiều loại, muốn chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia súc, gia- cầm thì trước hết cần nắm vững các môn học cơ sở như dược lý thú y, vi sinh vật học thú y, thức ăn gia súc, cơ thể sinh lý v.
Nám chắc được kiến thức các môn học này làm cơ sở để tiếp thu tốt kiến thức của môn nội khoa. Đồng thời môn bệnh nội khoa, cùng bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng và bệnh ngoại sản khoa gia súc có tính chất hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Nếu thiếu kiến thức của một trong các môn trên thì người cán bộ thú y sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong nghề nghiệp. NHỮNG TỔN THẤT DO BỆNH NỘI KHOA GÂY RA Muốn phát triển đàn gia súc để đáp ứng nhu cầu đời sống và sản xuất.
Chăn nuôi sinh sản cần đi đôi với bảo vệ đàn gia súc, phòng và chữa bệnh tật cho gia súc. Bệnh nội khoa gia súc tuy không lây lan thành ổ dịch nguy hiểm. Nhưng số gia súc mắc bệnh nội khoa xảy ra lẻ tế ở khắp mọi nơi, ở tất cả các mùa đã gây thiệt hại không nhỏ về súc vật và kinh tế. Chương Ï CHAN DOAN BỆNH HỌC (4 giờ) MỤC ĐÍCH YÊU CÂU - Giúp cho học sinh phân biệt được các nguyên nhân thông thường gây ra bệnh nội khoa: - Nắm được các cách tÌm triệu chứng bệnh.
- Biết chẩn đoán và định bệnh. NHŨNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG CỦA BỆNH 1. Nguyên nhân bên trong Là những nguyên nhân gây bệnh xuất phát từ bản thân cơ thể gia súc: - Tính di truyền là một trong những nguyên nhân bên trong gây nên bệnh, súc vật bố hay mẹ bị bệnh, bị suy nhược, phải làm việc quá sức, bị hư hỏng bộ phận nào đó sẽ truyền lại cho đời sau những cơ thể ốm yếu, đễ mắc bệnh tật như bệnh lao, bệnh ở đường hô hấp, lở loét ngoài da, há sừng móng. - Loài gia súc khác nhau do tổ chức giải phẫu khác nhau nên có loại gia súc mắc bệnh này mà loại khác không mắc.
Bò hay bị viêm dạ tổ ong do ngoại vật. - Giống gia súc khác nhau mắc bệnh khác nhau. Bò Hà Lan nhập nội dễ nhiễm ký sinh trùng đường máu hơn bò nội. - Ngoài ra tính biệt đực, cái; tuổi gia súc loại hình gia súc.
cũng là nguyên nhân bên trong. - Hầu hết các nguyên nhan'bên trong là nguyên nhân thuận lợi. Nghĩa là tự nó không có khả năng gây thành bệnh, chỉ có tác dụng làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho các nguyên nhân bên ngoài xâm nhập và gây nên bệnh. Nguyên nhân bên ngoài - tà các nguyên nhân từ hoàn cảnh xung quanh đưa đến, né thuộc các nhân tố sau: & a.
Nhân tố cơ giới Đánh đập, trượt ngã, chém, húc, cát, chọc. là những nguyên nhân gây nên xây - xát, chấn thương, vết thương, gẫy xương. Do vậy có thể tạo nên bệnh hoặc tạo môi trường thuận lợi cho vi trùng xâm nhập và gây nên bệnh. Nguyên nhân vật lý Nhiệt độ, độ ẩm trong không khí cao hay thấp quá có thể gây nên những rối loạn cục bộ hay toàn thân hoặc gây rối loạn dinh dưỡng của các tổ chức, làm giảm sức đề kháng với bệnh tật.
Các bệnh về đường hô hấp, đường tiêu hoá chịu tác động của nguyên nhân này rất lớn như bệnh xung huyết và phù phổi, bệnh cảm nóng cảm nắng. Nguyên phân hoá học Đây là một trong những nguyên nhân gây bệnh thường xuyên cho gia súc gia cầm. Trong thức ăn hay các sản phẩm của công, nông nghiệp có thể có chất độc gây nên những rối loạn trên cơ thể, nếu nặng có thể gây chết gia súc. Ngoài ra khói độc từ các nhà máy, nước thải từ các công xưởng, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt chuột v.
để vương vãi súc vật hấp thu phải sẽ bị ngộ độc. Thuốc trị bệnh dùng quá liều hay không đúng cách cũng có thể gây ngộ độc cho gia súc. Nguyên nhân sinh vật học - Các sinh vật sống ký sinh trên cơ thể gia súc như các nguyên sinh động vật, giun san, côn trùng. Chúng sống dinh đưỡng bàng máu của ký chủ sẽ làm cho súc vật suy yếu kiệt sức.
Đồng thời chúng còn tiết ra chất độc đầu độc ký chủ và mang mầm bệnh truyền nhiễm làm lây lan từ gia súc bệnh sang gia súc khoẻ. Trên thực tế chúng đã gây ra nhiều vụ dịch bệnh trầm trọng. Đặc biệt nấm và vi trùng bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm ở tính chất trầm trọng của bệnh và khả năng lây lan nhanh chóng. Nguyên nhân do con người Việc quân lý nuôi đưỡng - cham sớc - sử dụng của các chủ gia súc không đúng khoa học sẽ làm cho gia súc suy yếu.
Từ đơ làm giảm sức đề kháng của cơ thé gia súc với bệnh tật làm cho bệnh tật đễ xảy ra hơn hoặc làm cho bệnh tật trở nên trầm trọng hơn, thời gian bệnh kéo dài hơn. Kinh tế xá hội Một khi xã hội có một nền kinh tế phát triển cao sẽ có nhiều khả năng khống chế được bệnh dịch xảy ra, Nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã khống chế và tiêu điệt được nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như: dịch tả trâu bò, dịch tả lợn. CÁCH TÌM TRIỆU CHỨNG BỆNH 1. Định nghĩa về triệu chứng bệnh Một quá trình bệnh lý có thể gây ra những rối loạn về chức năng hoặc những thay 6 , đổi hình thái của khí quan này hay khí quan khác trong cơ thể.
Nhưng biểu hiện ra bên ngoài của những thay đổi bệnh đó gọi là triệu chứng. Nơi cách khác, triệu chứng là những hiện tượng của quá trình bệnh biểu hiện ra bên ngoài mà ta có thể nhận biết được. ` , , - Nhiệm vụ đầu tiên của chẩn đoán và phát hiện triệu chứng của bệnh súc. Trong một quá trình bệnh lý, giá trị chẩn đoán của các triệu chứng không giống nhau, căn cứ phạm 'vi biểu hiện có thể chia triệu chứng thành 2 loại: - Triệu chứng cục bộ: chỉ biểu hiện ở 1 khí quan hay một bộ phận bệnh.
Vi du: 4m đục vùng ngực - Triệu chứng toàn thân: xuất hiện do sự phản ứng của toàn cơ thể đối với nguyên nhân gây bệnh. Ví dụ: Thân nhiệt cao, sốt, tim đập nhanh. Các cách tìm triệu chứng Có rất nhiều phương pháp khám bệnh cho gia súc. Mỗi cán bộ thú ý cần nám chắc những phương pháp khám cơ bản trước một ca bệnh.
Da số các triệu chứng được phát hiện bằng phương tiện thuộc giác quan: quan sát, sờ nắn, gõ, nghe và kiểm tra cơ năng. Những triệu chứng phi lâm sàng được xét nghiệm trong phòng thí nghiệm bằng các phương pháp đặc biệt. Quan sat - Là phương pháp dùng trước tiên để khám bất cứ bệnh nào, nó là phương pháp khá đơn giản nhưng chính xác, bằng cách nhìn ta có thể thu được số lớn các triệu chứng quan trọng. Tuỳ theo mục đích và vị trí nhìn mà ta đứng xa hay gần gia súc.
Nên rèn luyện thành thối quen nhìn từ tổng quát đến cục bộ. + Nhìn toàn thân: là nhìn thái độ, đáng điệu, cử động, thể cốt, tình hình dinh dưỡng v. + Nhìn bộ phận: nhìn lần lượt từ đầu, cổ, lồng ngực, vùng bụng và 4 chân v. để phát hiện vết thương mụn nốt, chỗ rụng lông, nước mũi, phân, nước tiểu v.
- Phương tiện dùng quan sát là ánh sáng mặt trời, đèn chiếu, cần quan sát so sánh sự cân đối hai bên mông, hai thành bụng, ngực, các khớp 2 bên chân và giữa bộ phận đau với bộ phận lành để thấy những điểm khác thường. Sờ nắn - Dùng cảm giác của ngớn tay hay bàn tay để kiểm tra chỗ khám, xác định ôn độ, độ ẩm, trạng thái tổ chức và cảm giác đau; độ mẫn cảm của khí quan, sờ nấn còn để bất mạch, đo huyết áp và khám trực tràng. Sờ nắn có 2 cách: + Bờ bề mặt: là sờ những bộ phận nông để biết ôn độ, độ ẩm của da, lực căng của ‘co. Cũng cớ thể sờ để biết tần số hô hấp, tỉm đập v.
+ Sờ sâu: để khám các khí quan sâu. Ví dụ sờ nắn vùng dạ cô trâu bò, dùng ngón The tay hay nấm tay ấn thẳng góc với bề mặt da vào dạ cổ. Nên sờ từ nhẹ đến mạnh, từ bộ phận khoẻ đến bộ phận nghỉ mắc bệnh, từ ngoài ria vào trung tâm. Qua sờ nấn cảm giác tay có thể nhận biết các trạng thái sau.
- Dạng bột nhão ấn vào thấy mềm như bột, để lại vết tay ấn.