BÀI 5 THUOC TIEM MUC TIEU 1. Trình bày định nghĩa, phân loại, ưu nhược điểm các dạng thuốc tiêm và yêu cầu của từng đường tiêm thuốc. Phân tích vai trò, tính chất của 6 nhóm chất phụ trong công thức thuốc tiêm và đặc điểm một số công thức thuốc tiêm 3. Phân tích các yễu tô ảnh hướng đến độ Ôn định, sinh khả đụng và chất lượng của thuốc tiêm 4.
Trình bày được yêu câu về cơ sở, thiết bị, kỹ thuật pha chế và kiểm tra chất lượng thuốc tiêm dung dịch, thuốc tiêm hôn địch và thuốc tiêm đông khô 5. Ño sánh quy trình pha chế thuốc tiêm dung dịch, thuốc tiêm hôn dịch và thuốc tiêm đông khô về phạm vi áp dụng và các bước tiễn hành. Định nghĩa Thuốc tiêm là những chế phẩm vô khuẩn, có thể ở dạng dung dịch, hỗn dịch, nhũ tương hoặc dạng bột khô được pha thành dung dịch hay hỗn dịch ngay trước khi tiêm để tiêm vào cơ thê theo những đường tiêm khác nhau. Các đường tiêm thuốc Thuốc tiêm có thể được tiêm vào hầu hết các cơ quan và các bộ phận của cơ thể bao gồm các khớp, dịch khớp, cột sống, dịch não tủy, động mạch và thậm chí trong trường hợp cấp cứu thuốc có thể được tiêm trực tiếp vào tim.
Tuy vậy, những đường tiêm được sử dụng phô biến nhất là tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp và tiêm dưới da. Tiém tinh mach (Intravenous/IV) - Thuốc được tiêm trực tiếp vào tính mạch, thường là tĩnh mạch lớn ở phía trước khuỷu tay 100% lượng được chất có trong liều thuốc được đưa trực 92 tiép vao mau khéng qua giai doan hap thu va duoc phan bé ngay dén noi tac dụng, gây ra các đáp ứng sinh học gần nhưtức thời và có thể dự đoán. - Thể tích tiêm thuốc có thể từ vài miiilít đến hàng trăm mililít. Thuốc tiêm liều lớn được dùng để đưa các chất dinh dưỡng, chất điện giải,.
có thê chứa hoặc không chứa thuốc vào cơ thê. - Chỉ được tiêm tĩnh mạch các thuốc tiêm là dung dịch nước hay nhũ tương kiểu D/N với pha phân tán là các giọt phân tán hình cầu có kích thước dưới 0,5 micromet. Các thuốc tiêm tĩnh mạch với liều trên 15 mililít không được có chất gây sốt và không được có các chất sát khuẩn. Không được tiêm tĩnh mạch các thuốc tiêm dạng hỗn dịch nhằm tránh gây tắc mạch.
- Do thuốc tiêm được pha loãng vào máu ngay sau khi tiêm và thành tĩnh mạch ít nhạy cảm với các thuốc nên tiêm tĩnh mạch là đường dùng phù hợp với các thuốc gây kích ứng khi dùng đường uống hoặc tiêm bắp, tiêm đưới da. Tuy nhiên vẫn cần kiểm soát chặt chẽ tốc độ tiêm tĩnh mạch vì nếu tốc độ tiêm quá nhanh, nông độ thuốc quá cao tại nơi tiêm sẽ có thê dẫn tới tình trạng sốc. Tiém bap (Intramuscular/IM) - Thuốc được tiêm vào bó cơ nằm dưới da, thường là cơ delta cánh tay, cơ mông hoặc cơ đùi bên. Thê tích tiêm nhỏ, thường từ 1.0ml, tối đa có thể tới 10ml.
- Tốc độ hấp thu thuốc qua đường tiêm bắp tương đối nhanh, chỉ đứng sau đường tiêm tĩnh mạch. Cẫu trúc của thuốc tiêm ảnh hướng trực tiếp đến tốc độ hấp thu thuốc. Thuốc tiêm dung dịch nước hấp thu nhanh hơn so với dạng hỗn dịch tiêm, nhũ tương tiêm hoặc dung dịch tiêm dâu. Thuốc tiêm bắp can phải đẳng trương.
Tiêm dwoi da (Subcutaneous/SC) Thuốc dược tiêm vào ngay lớp mỡ dưới lớp hạ bì với thê tích tiêm có thể tới 2 mililít và thường áp dụng khi tiêm insulin, scopolamin, adrenalin,vaccin. Vị trí tiêm thường là da cánh tay, da cắng chân, da bụng. Khi phải tiêm thuốc hàng ngày cân thay đối chỗ tiêm. Không được tiêm dưới da các thuốc tiêm hỗn dịch nước hoặc dâu, các thuôc tiêm dung dịch có độ nhớt cao.
Phân loại thuốc tiêm - Dựa theo đường tiêm thuốc: Thuốc tiêm dưới da, thuốc tiêm bắp, thuốc tiêm tĩnh mạch, thuốc tiêm truyền tĩnh mạch. - Dựa theo hệ phân tán: Thuốc tiêm dung dịch, thuốc tiêm hỗn dịch, thuốc tiêm nhũ tương, thuốc tiêm dạng bột vô khuẩn. - Dựa theo bản chất của dung môi: Thuốc tiêm nước và thuốc tiêm dầu - Dựa theo nguôn gốc và mục đích sử dụng: Thuốc tiêm pha từ các hoá chất vô cơ hay hữu cơ, thuốc tiêm là các sản phẩm sinh học (vaccin, kháng độc tô), thuốc tiêm đùng để chân đoán bệnh (thuốc cản quang, thuốc nhuộm để kiểm tra chức năng của một số cơ quan nội tạng), thuốc tiêm có gắn chất phóng xạ dùng để chân đoán hay điều trị bệnh. - Dựa theo liễu dùng: Thuốc tiêm liều nhỏ và thuốc tiêm liều lớn (thuốc tiêm dùng với liều > 100 mililít cho một lần tiêm truyền).
Những ưu điểm và hạn chế của dạng thuốc tiêm 1. Uu điểm - Thuốc tiêm có thể thiết kế với khả năng giải phóng được chất rat da dang: + Thuốc tiêm cho đáp ứng sinh học tức thì. Dạng thuốc tiêm này thường ở dạng dung dịch tiêm, được tiêm trực tiếp vào máu (tiêm tĩnh mạch, tiêm động mạch) hoặc tiêm trực tiếp vào các cơ quan đích (tiêm vào tim, tiêm vào dịch não tuỷ), khi đó được chất không phải qua quá trình hấp thu như khi tiêm bắp, tiêm dưới da hay khi uống mà được đưa thẳng tới nơi tác dụng của thuốc, do vậy đặc biệt thích hợp trong những trường hợp cấp cứu (ngừng tim, hen phế quản kịch phát, sốc phản vệ). + Thuốc tiêm khu trú tác dụng của thuốc tại nơi tiêm nhằm tăng cường tác dụng tại đích và hạn chế hoặc tránh tác dụng độc đối với toàn thân (gây tê tại chỗ,.
+ Thuốc tiêm cho phép kéo dài thời gian tác dụng (ví dụ thuốc tiêm insulin, thuốc tiêm steroid,. Dạng này thường là hỗn dịch tiêm hoặc các dung dịch tiêm được dùng theo đường tiêm bắp hoặc tiêm dưới da. - Thuốc tiêm là dạng thuốc thích hợp đối với nhiều dược chất có tính thấm kém (amphotericin B,.) hoặc bị phá hủy trong đường tiêu hóa (insulin 94 và một số peptit.), dược chất khi dùng theo đường uống gây ra những tác dụng phụ không mong muốn như gây nôn, buồn nôn (emetin,. - Thuốc tiêm là dạng bào chế thích hợp dùng trong các trường hợp người bệnh bất tỉnh, không tự kiêm soát được bản thân, không muốn cộng tác với thây thuốc hoặc không thể dùng thuốc theo đường uống (người bệnh bị chứng khó nuốt).
- Thuốc tiêm giup thiét lập lại sự mất cân bằng về nước và các chất điện giải của cơ thể nhanh nhất, cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho co thé trong trường hợp người bệnh không ăn được trong một thời gian dài (sử dụng tiêm truyền). - Dùng thuốc theo đường tiêm cho phép kiểm soát được liều lượng chính xác hơn, dự đoán được mức độ và độ lặp lại của quá trình hấp thu dược chất hơn so với dùng thuốc theo đường uống. Vì thế, những thuốc mới đang ở giai đoạn thử lâm sàng, có thể pha chế và thử nghiệm dưới dạng thuốc tiêm, giúp cho nghiên cứu dược động học của thuốc được dễ dàng hơn và việc đánh giá tác dục điều trị, tác dụng phụ của thuốc chính xác hơn. Nhược điểm - Thuốc tiêm thường gây đau tại nơi tiêm.
- Thuốc tiêm được tiêm trực tiếp vào mạch máu hoặc các mô, bỏ qua các hàng rào bảo vệ nhiên của cơ thể như da và niêm mạc, do đó thuốc tiêm phải là những chế phẩm vô khuẩn, tỉnh khiết đề tránh gây tai biến cho người dùng thuốc. Vì vậy, quy trình sản xuất thuốc tiêm phức tạp và đòi hỏi kỹ thuật cao hơn nhiều so với các dạng bào chế khác. Các loại hóa chất, dung môi, bao bì và cơ sở vật chất, kỹ thuật đều phải đạt tiêu chuẩn để pha thuốc tiêm. Nhân viên tham gia sản xuất thuốc tiêm đòi hỏi được đào tạo ở trình độ cao và đào tạo thường xuyên.
- Khi tiêm thuốc cần đảm bảo đúng liều và đúng đường tiêm nếu không có thê gây tai biến nghiêm trọng. Ví dụ, thuốc tiêm hỗn dịch chỉ được tiêm bắp hoặc tiêm dưới da, không được phép tiêm tĩnh mạch vì có thể sẽ gây tắc mach ngay tại nơi tiêm. - Nếu bệnh nhân dị ứng với các thành phần của thuốc (dược chất hoặc tá dược) thì có thể gây ra những phản ứng dị ứng rất nhanh và đữ dội trong khi đó lại rất khó để đảo ngược tác dụng của thuốc đã tiêm vào cơ thê. 95 - Chỉ những người có trình độ chuyên môn y học nhất định mới được phép tiêm thuốc cho người bệnh và cũng phải thực hiện nghiêm ngặt các yêu cầu vệ sinh vô khuẩn khi tiêm thuốc.
- Dùng thuốc theo đường tiêm tốn nhiều thời gian hơn so với các đường dùng thuốc khác, có khi kéo dài nhiêu giờ như tiêm truyền tĩnh mạch và phải theo dõi sát tình trạng bệnh nhân trong suốt thời gian tiêm thuốc. - Giá của các chế phẩm thuốc tiêm thường cao hơn so với dạng thuốc khác. XÂY DỰNG CÔNG THỨC THUÓC TIÊM Thuốc tiêm có thể được phân loại thành thuốc tiêm dung dịch (nước hoặc dầu), hỗn dịch (nước hoặc dầu) và nhũ tương. Thực tế, các dạng thuốc tiêm trên có thành phân hâu hết là tương tự như các dạng dung dịch, hỗn dịch hay nhũ tương không tiêm.
Tuy vậy, dạng thuốc tiêm cũng có một số thành phần riêng biệt tùy vào mục đích thiết kế công thức thuốc tiêm. Căn cứ lựa chọn dạng bào chế Đề lựa chọn xây dựng công thức bào chế phải dựa trên tính chất hóa lý của được chất, tiếp đó là đặc điểm về đường tiêm thuốc, thể tích tiêm, đồng thời phải xem xét dựa trên tác dụng dược lý và mục tiêu về thời gian gây tác dụng dược lý của thuốc. Khả năng hòa tan của dược chất Có thê chia các dược chất dùng pha chế thuốc tiêm thành 3 nhóm : - Các được chất có khả năng hòa tan tốt, trong đó được chất có khả năng tan hoàn toàn trong dung môi (nước hoặc dầu) ở nồng độ cần thiết trong chế phẩm tiêm. Trong trường hợp này có thể bào chế thuốc tiêm dạng dung dịch.
- Các dược chất có độ hòa tan vừa phải nhưng không đủ để tạo thành dung dịch trong dung môi thông thường (nước hoặc dâu). Trong trường hop này việc sử dụng đồng dung môi có thể làm tăng khả năng hòa tan của dược chất để tạo được dung dịch thuốc có nông độ cần thiết. Tuy nhiên, nếu cần thiết được chất ít tan có thể được bào chế đưới dạng hỗn dịch. - Các dược chất có độ hòa tan thấp trong dung môi đã chọn, lựa chọn ưu tiên bào chế dưới dạng nhũ tương tiêm.
Đường tiêm thuốc - Thuốc tiêm tĩnh mạch phải là dạng dung dịch nước hoặc nhũ tương dạng D/N.