BỌ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC 'nguyễn tất thành NGUYEN TATTHANH CHUYÊN NGÀNH VẬT LÝ Y KHOA MÔN HỌC AN TOÀN BỨC XẠ PHẰN CÁC KIẾN THỨC CHUYÊN ĐỀ TP HÒ CHÍ MINH-2020 MÔ DUN 4.3 BẢO VỆ CHÓNG BỨC XẠ TRONG XẠ TRỊ TÓNG QUAN Mô-đun này được thiết kế nhằm cung cấp cho học viên các thông tin liên quan đến các vấn đề an toàn bức xạ trong khoa xạ trị điển hình. Nó bao gồm thiết kế của một cơ sở xạ trị, cũng như đưa ra một số gợi ý và lời khuyên thiết thực về an toàn bức xạ. Các mô-đun không có bất kỳ kiến thức trước về xạ trị. Do đó, nó bắt đầu với việc giới thiệu ngắn gọn về một khoa xạ trị điển hình với sự nhấn mạnh đặc biệt được tập trung vào các thủ tục thường được sử dụng.
Theo đó, bố trí của một cơ sở xạ trị chiếu ngoài được giới thiệu. Điều này được chia thành các phần liên quan tới các thiết bị khác nhau và mỗi phần phụ sẽ bao gồm: a) Mô tả thiết bị; b) Các thủ tục liên quan đến an toàn bức xạ; c) Thiết kế phòng điều trị điển hình; và d) Các vấn đề an toàn bức xạ điển hình. Ngoài ra, một số tính năng phổ biến cho tất cả các phương pháp xạ trị chiếu ngoài, chẳng hạn như che chắn và đo bức xạ, sẽ được thảo luận. Phần tiếp theo của mô-đun bao gồm liệu pháp xạ trị áp sát - brachytherapy (tức là điều trị bệnh nhân bằng nguồn phóng xạ tiếp xúc gần với khối u).
Phần này bao gồm sử dụng các nguồn phóng xạ hở, có liên quan chặt chẽ với các quy trình y học hạt nhân được mô tả trong Mô-đun 4. Mô-đun tiếp tục với một số thông tin về các thiết bị phát xạ khác thường được tìm thấy trong khoa xạ trị và kết luận với một phần về nhân sự, đào tạo và đảm bảo chất lượng vì đây là những phương tiện rất quan trọng để giảm thiểu rủi ro bức xạ. Bạn phải hoàn thành các mô-đun của Phần 1, 2 và 3 trước khi nghiên cứu mô-đun này. Đặc biệt quan trọng là các Mô-đun 2.2 Bảo vệ các nguy cơ bức xạ chiếu ngoài, 2.3 Bảo vệ các nguy cơ bức xạ chiếu trong và 2.4 Sử dụng các thiết bị giám sát bức xạ.
Những kiến thức này cần cho các mô-đun hiện tại. Nếu cần, vui lòng xem lại các mô-đun này một cách nhanh chóng trước khi bắt đầu mô-đun này. 135 Mô-đun này cũng được bổ sung bởi hai mô-đun khác liên quan đến an toàn bức xạ trong lĩnh vực y tế - Mô-đun 4.1 Bảo vệ chống bức xạ trong X quang chẩn đoán và Mô-đun 4.2 Bảo vệ chống bức xạ trong Y học hạt nhân. Mô-đun này không yêu cầu bạn phải làm việc thông qua các mô-đun này trước.
Tuy nhiên, kiến thức về các mô- đun này có thể giúp bạn hiểu các nguyên tắc liên quan đến bảo vệ chống bức xạ trong lĩnh vực xạ trị. Mặc dù bạn cỏ thể đã quen thuộc với một số nội dung của mô-đun này (đặc biệt, nếu bạn đã làm việc trong khoa xạ trị trước đỏ), điều quan trọng là bạn phải hoàn thành các câu hỏi tự kiểm tra ở cuối mỗi phần trước khi tiếp tục. MỤC TIÊU HỌC TẠP Khi bạn đã hoàn thành mô-đun này, bạn có thể: 1) Nêu mục đích và mục tiêu của xạ trị. 2) Mô tả các dòng công việc cơ bản trong khoa xạ trị.
3) Xác định rủi ro cho bệnh nhân, nhân viên và khách đến thăm trong khoa xạ trị. 4) Mô tả một cách đơn giản các thiết bị được sử dụng cho xạ trị chiếu ngoài và xạ trị áp sát. 5) Mô tả và giải thích việc sử dụng đúng các thiết bị bảo hộ nhằm đảm bảo an toàn bức xạ trong xạ trị chiếu ngoài và xạ trị áp sát. 6) Thảo luận về các mối nguy hiểm liên quan đến các loại bức xạ khác nhau được sử dụng cho xạ trị chiếu ngoài và xạ trị áp sát bao gồm cả các sản phẩm phụ của chúng.
7) Mô tả các phép kiểm tra/ phép thử liên quan đến an toàn bức xạ trong quá trình lắp đặt và vận hành thiết bị trong xạ trị chiếu ngoài và xạ trị áp sát. 8) Thiết kế chương trình đảm bảo chất lượng thường xuyên, đảm bảo an toàn bức xạ trong cơ sở xạ trị. 9) Phân tích bố trí và các yêu cầu che chắn cho một cơ sở xạ trị chiếu ngoài và cơ sở xạ trị. 10) Thiết kế một chương trình đào tạo về an toàn bức xạ cho các nhân viên khác liên quan đến xạ trị.
TỔNG QUAN VÈ XẠ TRỊ 1.1 Mục đích và mục tiêu của xạ trị Mục đích của xạ trị là sử dụng bức xạ ion hóa để chữa bệnh hoặc làm cho các triệu chứng của bệnh bớt nghiêm trọng hơn (nghĩa là giảm nhẹ ảnh hưởng của bệnh). Đấy có thể là các bệnh lành tính như các vấn đề liên quan tới da hoặc sẹo quá mức. Nhưng nói chung, xạ trị thường nhắm đến ung thư ác tính. Trong trường hợp này, khoảng một nửa số bệnh nhân được xạ trị với mục đích chữa bệnh (tức là với mục đích loại bỏ hoàn toàn bệnh ung thư) và một nửa số bệnh nhân được điều trị với mục đích giảm nhẹ để làm cho các triệu chứng đau đớn hoặc đe dọa tính mạng của họ bớt nghiêm trọng.
Trong mọi trường hợp, liều bức xạ được phân đến các cơ quan nội tạng của bệnh nhân phải ở mức nhiều bậc lớn hơn so với liều trong chẩn đoán. Liều này thường được phân phối nhiều lần (được gọi là phân liều) trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần để cải thiện đáp ứng của các tổ chức lành của bệnh nhân. Lịch trình xạ trị thông thường gồm khoảng 30 phân liều 2 Gy/lần được chiếu đến khối u trong khoảng thời gian 6 tuần (đối với các tác dụng chữa bệnh) hoặc 6 phân liều 5 Gy được phân phối trong 2 tuần (đối với các tác động giảm nhẹ). Mục tiêu của xạ trị là đưa liều (phân liều) đến khối u (và các bộ phận khác của cơ thể có nguy cơ phát triển ung thư) mà không cung cấp quá nhiều liều cho các mô lành (khỏe) xung quanh.
Điều này có thể đạt được theo nhiều cách: 1. Chùm bức xạ ion hóa được hướng từ bên ngoài qua da bệnh nhân đến khối u. Điều này được gọi là xạ trị chiếu ngoài (hoặc teletherapy- xạ trị từ xa). Trong trường hợp này, che chắn được sử dụng phổ biến nhất trong trường bức xạ để thu hẹp chùm tia hướng tới đích và bảo vệ các cấu trúc lành.
Điều này được gọi là khu trú chùm tia (collimation) hoặc định hình chùm tia. Khoảng 90% của tất cả các bệnh nhân xạ trị trải qua xạ trị chiếu ngoài. Nguồn phóng xạ có thể được tiếp xúc gần với khối u. Kỹ thuật này được gọi là xạ trị áp sát (brachytherapy).
Các nguồn phóng xạ phổ biến nhất được sử dụng trong liệu pháp xạ trị áp sát là các nguồn kín được đóng gói tốt. Nếu được xử lý thích hợp, các nguồn này không thể tiếp cận hoặc làm ô nhiễm môi trường. Nguồn phóng xạ hở có thể được dùng cho bệnh nhân bằng cách tiêm tĩnh mạch hoặc qua ăn uống (qua đường tiêu hoá). Do thành phần hóa học của chúng, hoạt độ được hấp thụ tốt hơn trong mô đích (mô u) và dẫn đến chiếu xạ cục bộ của khối u.
Quy trình này rất giống với quy trình y học hạt nhân chẩn đoán (xem Mô-đun 4.2 Bảo vệ chống bức xạ trong Y học hạt nhân) nhưng hoạt độ được sử dụng thường cao hơn cả nghìn lần.2 Cấu trúc của khoa xạ trị Cấu trúc của một khoa xạ trị phụ thuộc vào các quy trình và kỹ thuật điều trị theo kế hoạch. Những điều này cần phải được lập thành văn bản và cần được quản lý đến từng bệnh nhân. Để hiểu tốt các vấn đề an toàn bức xạ, sẽ hữu ích khi xem xét lộ trình điển hình mà một bệnh nhân phải trải qua liệu pháp xạ trị. Điều này được minh họa trong Hình 1.
Hình 1 Lộ trình điều trị của bệnh nhân trong Khoa xạ trị Trái ngược với các bệnh nhân xạ trị chiếu ngoài, thường là bệnh nhân ngoại trú (tức là chỉ đến bệnh viện khi điều trị), bệnh nhân dùng liệu pháp xạ trị áp sát thường được ở lại bệnh viện (nội trú). Hầu hết trong số họ sẽ trải qua một quá trình phẫu thuật trong đó các nguồn phóng xạ (hoặc ống thông để chứa chúng sau này) được cấy ghép. Sau đỏ, bệnh nhân được giữ lại ở bệnh viện trong suốt thời gian điều trị. 138 Bệnh nhân được điều trị bằng các nguồn hở có thể ở bên trong hoặc ngoài bệnh nhân tùy thuộc vào hoạt độ và các hạt nhân phóng xạ được sử dụng.3 Vai trò của nhân viên phụ trách an toàn bức xạ Vai trò và vị trí của người chịu trách nhiệm về an toàn bức xạ phải được xác định rõ ràng trong cấu trúc của khoa xạ trị.
Người chịu trách nhiệm về an toàn bức xạ thường được bổ nhiệm chính thức là cán bộ phụ trách an toàn bức xạ (RSO). Ngoài bằng cấp và kinh nghiệm phù hợp, RSO cần có kỹ năng giao tiếp tuyệt vời. Điều này có tầm quan trọng đối với việc đào tạo người khác và chuẩn bị các thủ tục. RSO cũng có thể chịu trách nhiệm cho các quyết định không phổ biến, phải được tuân thủ.
Do đó, điều quan trọng là RSO phải chịu trách nhiệm trực tiếp với quản lý điều hành để có quyền truy cập vào các tài nguyên cần thiết để cho phép hành động nhanh trong trường hợp khẩn cấp và / hoặc các mối nguy hiểm nghiêm trọng.4 Bệnh nhân, nhân viên và khách đến thăm Khi thảo luận về an toàn bức xạ trong bất kỳ bối cảnh nào, thường xem xét ai cần được bảo vệ bằng các biện pháp an toàn bức xạ. Trong xạ trị, ba nhóm người cần được xem xét: 1. Bệnh nhân: Ngay cả khi họ nhận được liều bức xạ rất cao ở khối ung thư, các mô lành của bệnh nhân phải được bảo vệ. Điều này bao gồm bảo vệ các cơ quan bằng cách hướng bức xạ hiệu quả nhất đến khối u (ví dụ thông qua kế hoạch điều trị tối ưu) cũng như giảm thiểu bức xạ được sử dụng trong các thủ tục chẩn đoán như quét CT và mô phỏng càng nhiều càng tốt.