1 UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRƢỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG GIÁO TRÌNH CẤP TRƯỜNG NĂM HỌC 2017 - 2018 GIÁO TRÌNH ÂM NHẠC 1 (DÀNH CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC) Mã số:………. Chủ biên: TS. Trần Quốc Tuấn Thành viên: Ths. Nguyễn Thế Hùng Đơn vị: Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non Hải Phòng, tháng 5 năm 2018 1 2 LỜI NÓI ĐẦU Sự hình thành lý thuyết âm nhạc có từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người.
Với mỗi quốc gia, việc hình thành hệ thống lý thuyết âm nhạc theo những quan điểm riêng, nó gắn liền với không gian văn hoá của cộng đồng người trên cùng một vùng địa lý, với nhân sinh quan. Chính vì vậy mà chúng ta có hệ thống lý thuyết âm nhạc phương Đông, phương Tây, châu Âu, châu Á. Có thể thấy, hiện nay những vấn đề lý thuyết âm nhạc được các nước trên thế giới sử dụng chung là lý thuyết âm nhạc có nguồn gốc từ châu Âu. Những tài liệu về lý thuyết âm nhạc đang sử dụng ở Việt Nam hiện nay cũng theo hệ thống này.
Do chưa có giáo trình chính thức dành cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học - Trường Đại học Hải Phòng, vì thế trong những năm qua, hầu hết các giảng viên âm nhạc đã và đang sử dụng giáo trình chính là: “Lý thuyết âm nhạc cơ bản” - TS. Phạm Tú Hương - Đại học Sư phạm, Hà Nội xuất bản năm 2004. Mặt khác, chúng tôi còn phải thu thập thêm một số tài liệu tham khảo như giáo trình “Lý thuyết âm nhạc cơ bản” - Trịnh Tuấn - Trường Cao đẳng Nhạc- Họa Trung ương - xuất bản năm 1986, Nhà xuất bản Hà Nội; “Tập bài hát các lớp 1.5” - Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1996; “Tập bài hát Tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5”- Hoàng Long- Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2011 v. Tuy nhiên, những tài liệu nói trên mang tính chuyên sâu (dành cho các đối tượng sinh viên học chuyên về âm nhạc) không thể áp dụng hoàn toàn để dạy cho sinh viên ngành giáo dục Tiểu học, hơn nữa nội dung của học phần “Âm nhạc 1” không chỉ là nội dung “Lý thuyết âm nhạc cơ bản” mà bao gồm cả phần thực hành xướng âm ghép lời các bài hát ở tiểu học nên hiện nay giảng viên dạy học phần này tại trường Đại học Hải Phòng đang phải kết hợp một số giáo trình, tài liệu của các trường khác chứ không phải chỉ là một tài liệu, giáo trình.
Như vậy, việc biên soạn một tài liệu đầy đủ, thống nhất, phù hợp với nội dung chương trình đào tạo giáo viên Tiểu học ở trường Đại học Hải Phòng là rất cần thiết. Mặt khác, xét về tính đặc thù của bộ môn Âm nhạc áp dụng dành riêng cho sinh viên ngành giáo dục Tiểu học của Nhà trường, giáo trình Âm nhạc 1 sẽ được biên soạn nhằm mang tính ứng dụng bài tập và thực hành nhiều hơn. Tuy nhiên những bài tập cũng như các giờ thực hành phải đảm bảo tính vừa sức đối với sinh viên, đồng thời cũng là điều kiện tiên quyết để sinh viên học tốt các môn học như: (Âm nhạc 2, phương pháp dạy học âm nhạc ở Tiểu hoc, xướng âm Đô trưởng). Những vấn đề lý thuyết âm nhạc đã được chúng tôi nghiên cứu, thống nhất trong tổ chuyên môn, từ đó mang đến cho sinh viên những hiểu biết căn bản và đầy đủ, phù hợp với thực tiễn môn học.
Hơn nữa, việc đẩy mạnh các giờ thực hành nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học Âm nhạc cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian, việc biên soạn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế. Vậy, kính mong các quý thầy cô và các em sinh viên đóng góp ý kiến để chúng tôi tiếp thu và tiếp tục chỉnh sửa giáo trình được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn! 3 PHẦN 1: KIẾN THỨC LÝ THUYẾT ÂM NHẠC CƠ BẢN Chƣơng 1: ÂM THANH VÀ PHƢƠNG PHÁP KÍ ÂM Trước hết chúng ta cần tìm hiểu về âm thanh nói chung và âm thanh âm nhạc.
- Âm thanh: là một hiện tượng vật lý, ngoài ra nó còn là một cảm giác. Âm thanh được tạo ra bởi sự dao động của một vật thể đàn hồi nào đó. Khi vật thể đàn hồi, dao động đã tạo ra những sóng âm. Những sóng âm này lan truyền trong không khí đến tai người làm cho màng nhĩ cũng dao động cùng với tần số của sóng đó.
Từ màng nhĩ, những sóng âm này truyền qua hệ thần kinh của bộ não tạo nên cảm giác về âm thanh. Tai con người chỉ cảm thụ được những âm có dao động có tần số từ khoảng 16Hz đến 20. Những âm dao động trong miền tần số 16Hz đến 20.000Hz được gọi là dao động âm. Những sóng có tần số trong miền đó gọi là sóng âm, gọi tắt là âm.
Những sóng cơ học có tần số nhỏ hơn 16Hz gọi là sóng Hạ âm. Những sóng cơ học có tần số lớn hơn 20000Hz gọi là sóng siêu âm. Sóng hạ âm và sóng siêu âm được sử dụng trong khoa học và kỹ thuật. Môn khoa học nghiên cứu về các âm thanh gọi là âm học.
- Âm thanh âm nhạc: Trong quá trình phát triển của cuộc sống, con người đãsáng tạo ra những âm thanh dùng để biểu hiện, diễn cảm những cả xúc tâm hồn của mình về cuộc sống. Những âm thanh này là những âm thanh được con người chọn lựa, thẩm định, sáng tạo, cải tiến và chúng được xác định bới bốn yếu tố: “Độ cao; Độ dài; Độ vang và Âm sắc”, những âm thanh này được gọi là âm thanh âm nhạc. Độ cao, thấp của âm thanh phụ thuộc vào tần số dao động của vật thểrung. Âm có tần số lớn gọi là âm cao và âm có tần số nhỏ gọi là âm thấp hoặc âm trầm.
Độ cao của âm thanh là một thuộc tính rất quan trọng của âm nhạc. Mối tương quan về cao độ của các âm thanh là một trong những nhân tố quan trọng nhất để hình thành nên giai điệu của bản nhạc. Hệ thống âm thanh trong âm nhạc Hệ thống âm thanh trong âm nhạc là một thang âm đầy đủ bao gồm 88 âmkhác nhau được sắp xếp theo cao độ. Nó được trải rộng từ âm thấp nhất có tần số dao động 4 khoảng 16Hz đến âm cao nhất có tần số dao động đến 4176Hz.
Đây là nhữngâm thanh đạt tiêu chuẩn mà con người sử dụng trong nghệ thuật âm nhạc. Các bậc cơ bản trong thang âm đầy đủ của âm nhạc được gọi theo cáctên sau: Đô, Rê, Mi, Fa, Sol, La, Si. Các bậc cơ bản này ứng với các phần trắng trên đàn piano hay đàn keyboard. Bậc và âm cơ bản Mỗi âm thanh được coi là một bậc.
Tuy nhiên, không phải mỗi bậc lại cómột tên gọi riêng mà chúng chỉ được gọi theo 7 cái tên cơ bản là “Đô - Rê - Mi - Fa - Sol (xon) - La - Si (xi)” tuần hoàn nhau. Vì vậy, 7 bậc ứng với 7 tên gọi là “Đô - Rê - Mi - Fa - Sol (xon) - La - Si (xi)” đó được gọi là 7 bậc cơ bản. Ngoài tên gọi nói trên, người ta còn dùng những ký hiệu chữ cái để chỉ tên các nốt. Quãng 8 và phân định các nhóm quãng 8 Như trên đã nói, 88 âm thanh dùng trong âm nhạc đó nhưng chúng chỉ đượcgọi với 7 cái tên: “Đô - Rê - Mi - Fa - Sol - La - Si” tuần hoàn nhau (nhưng thực tế 88 âm này là những âm có cao độ khác nhau.
Để xác định cao độ tuyệt đối của từng âm thanh âm nhạc trong hàng âm, người ta phân các nhóm với 7 âm cơ bản liền kề nhau thành một quãng tám (7 âm liền kề “Đô - Rê - Mi - Fa - Sol - La - Si” cộng với âm kế tiếp cùng tên với âm bắt đầu của nhóm âm này tổng cộng là 8 âm. Như vậy, có thể nói: - Quãng tám là khoảng cách giữa hai âm cùng tên có tần số gấp đôi nhau trongcác hệ thống thang âm: diatonic (gam tự nhiên), pentatonic, (gam 5 âm) chromatic (gam bán âm…) và được lặp lại một cách có chu kỳ. - Phân định các nhóm quãng tám: Toàn bộ thang âm đầy đủ (tính từ âm Đô (C)là âm xuất phát, bao gồm bẩy quãng tám đầy đủ và hai quãng tám thiếu ở hai đầu của thang âm. Các quãng tám có tên gọi như sau: (tính từ thấp lên cao): 5 Quãng tám cực trầm (thiếu); Quãng tám trầm; Quãng tám lớn; Quãng tám nhỏ;Quãng tám thứ nhất; Quãng tám thứ hai; Quãng tám thứ ba; Quãng tám thứ tư; Quãng tám thứ năm (thiếu): Hình 1.1 Phân định vị trí nhóm các quãng 8 Các nốt ở quãng tám cực trầm ký hiệu bằng chữ cái in hoa và ghi số 2 nhỏhoặc 2 vạch nhỏ ở bên dưới: A2, B2, hoặc Các nốt ở quãng tám trầm ký hiệu bằng chữ cái in hoa và ghi số 1 nhỏ ở hoặc 1 vạch nhỏ ở bên dưới: A1, B1, hoặc A, B.
Các nốt ở quãng tám lớn ký hiệu bằng chữ cái in hoa: C, D,E, F,. Các nốt ở quãng tám nhỏ ký hiệu bằng chữ cái thường: c, d, e, f,. Các nốt ở quãng tám thứ nhất đến quãng tám thứ năm ký hiệu bằng chữcái thường và chữ số hoặc bằng vạch ở bên trên tương ứng với tên gọi của quãng tám đó: 6 1. Khuông, khóa, nốt nhạc và cách ghi chép nhạc - Khuông nhạc và các dòng kẻ phụ Để xác định cao độ của âm, các nốt nhạc được trình bày trên khuôngnhạc.
Khuông nhạc là một hệ thống gồm có năm dòng kẻ song song cách đều nhau. Các nốt nhạc có thề nằm trên các dòng kẻ hoặc nằm trong khe giữa hai dòng kẻ. Như vậy khuông nhạc bao gồm năm dòng kẻ và bốn khe. Chúng được đánh số thứ tự từ dưới lên: Để ghi các nốt nhạc có cao độ nằm ngoài năm dòng kẻ chính, người tadùng các dòng kẻ phụ.
Dòng kẻ phụ là những đường kẻ ngắn cho từng nốt nhạc (không quá 5 dòng), chúng ở trên hay ở dưới khuông nhạc. Thứ tự dòng kẻ phụ được tính từ khuông nhạc đi lên hoặc đi xuống. - Khoá nhạc Khoá nhạc là ký hiệu đặt ở đầu khuông nhạc, quy định vị trí cao đ ộ của nốt nhạc trên đòng đó và từ nốt đó xác định vị trí của các âm khác của thang âm. Có ba loại khoá thường dùng: 1/ Khoá Sol: Ký hiệu khoá Sol: Khoá Sol được viết bắt đầu từ dòng thứ hai của khuông nhạc, xác định nốt trên dòng kẻ thứ hai là nốt Sol của quãng tám thứ nhất.