Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm liên quan 1. Văn hóa và một số khái niệm liên quan Văn hóa (Culture) là một thuật ngữ có rất nhiều định nghĩa được sử dụng tùy theo góc độ tiếp cận. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do GS.
Hoàng Phê làm chủ biên (2018), Nhà xuất bản Hồng Đức, “văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” hoặc “những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần.” (Hoàng Phê chủ biên, 2018, tr. Theo UNESCO năm 2001, “văn hóa là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn cả phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin” (Khung thống kê văn hóa UNESCO 2009, tr. Như vậy, văn hóa có thể được xem như là một tổng hợp các lĩnh vực tư tưởng, đức tin, nghệ thuật, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lối sống cũng như các giá trị vật chất và tinh thần được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, giao thoa văn hóa được xem là một hiện tượng tất yếu giúp cho mỗi nền văn hóa tiếp nhận những yếu tố văn hóa mới để làm phong phú hơn giá trị văn hóa truyền thống của mình.
Nguyễn Quang (2008), tác giả của bài “Văn hóa, giao thoa văn hóa và giảng dạy ngoại ngữ” đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 24, tr. 69-85, định nghĩa “Giao thoa văn hóa là sự tương tác giữa các nhóm xã hội (social groups), giữa các tiểu văn hóa (sub-cultures), giữa các văn hóa tộc người (ethnic cultures) và giữa các nền văn hóa (cultures) khác nhau”. Trong đó, sự tương tác liên văn hóa là một yếu tố ủng hộ sự hòa nhập và sự tồn tại hài hòa của các thành viên trong cộng đồng đa tộc người, đa văn hóa của một quốc gia. Cách thức giao tiếp trong quá trình tương tác với nhau giữa các nền văn hóa, giữa các cộng đồng văn hóa có phương thức sống khác nhau được gọi là giao tiếp liên văn hóa (Intercultural Communication).
Thông qua sự tương tác giữa đối tác của các nền văn hóa khác nhau, quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa là một quy luật tất yếu trong tiến trình văn hóa của các dân tộc. Giao lưu văn hóa là quá trình tiếp xúc, trao đổi và tiếp nhận các giá trị văn hóa khác nhau, có thể (hoặc không) dẫn đến những chuyển đổi văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Nhu cầu cho sự tồn tại của mỗi tộc người trong một xã hội đã tạo ra hiện tượng tiếp biến văn hóa. Tiếp biến văn hóa là quá trình mà các thành viên của một nhóm văn hóa tiếp thu những niềm tin và hành vi của một hay những nhóm khác, và cải biến lối sống riêng của mình để thích nghi với văn hóa của một cộng đồng tộc người, một quốc gia, một môi trường mới.
Ngoài ra, định nghĩa về “tiếp biến văn hóa” được đưa ra ở cuộc họp UNESCO châu Á tại Téhésran năm 1978 như sau: “Tiếp biến văn hóa là sự tiếp xúc giữa những nhóm người khác nhau về văn hóa, do đó sinh ra những sự thay đổi về văn hóa (ứng xử, giao tiếp, tư duy) ở trong mỗi nhóm.” Tiếp biến văn hóa là quá trình một nhóm người hay một cá nhân qua tiếp xúc trực tiếp và liên tục với một nhóm khác, tiếp thụ (tự nguyện hay bắt buộc, toàn bộ hay từng bộ phận) nền văn hóa của nhóm này. (Nguyễn Thị Hương, 2015, tr. Như vậy, trong luận văn này, khi nói đến giao thoa văn hóa là chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sự tương tác giữa các nhóm văn hóa, các nhóm cộng đồng với nhau. Còn khi nói đến giao lưu và tiếp biến văn hóa, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sự tiếp xúc, tiếp thu và biến đổi của một nền văn hóa nào đó trong sự tương tác với một nền văn hóa khác.
Tộc người và di dân Tộc người (Ethnic) là một cộng đồng người sống chung trong một xã hội, chia sẻ cùng một nền văn hóa và một ngôn ngữ với tên gọi giống nhau, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cộng đồng người là một nhóm xã hội của toàn thể những người sống chung trong một môi trường có cùng điểm chung hoặc cùng các mối quan 13 tâm chung. Cộng đồng tộc người là cộng đồng người thuộc một hay nhiều tộc người có những đặc trưng riêng biệt về ngôn ngữ, văn hóa. (Phan Thị Hồng Xuân, 2018, tr.
Quá trình dịch chuyển môi trường sống của người dân từ một lãnh thổ này sang một lãnh thổ khác được gọi là quá trình di dân (di cư). Quá trình này gắn liền với một hiện tượng khác trong xã hội, đó là hiện tượng nhập cư. Nhập cư được hiểu là việc di chuyển nơi cư trú đến một đơn vị lãnh thổ, một quốc gia mới để định cư lâu dài hoặc tạm thời. Định cư được hiểu là quá trình thiết lập nơi cư trú mới để người dân làm ăn sinh sống trong một khoảng thời gian dài.
Di dân là một cách thức của quá trình tộc người. Trong lịch sử nhân loại, con người đã trải qua rất nhiều cuộc di dân vĩ đại. Sự tương tác với môi trường tự nhiên, với điều kiện sống mới và những chủ nhân mới đã đưa đến sự biến đổi hoặc là hoàn toàn (bị đồng hóa), hoặc là tiến hóa (cộng sinh), hoặc là phân ly (dị hóa) đối với các chủ thể tương tác. Người Việt - với tư cách cộng đồng tộc người thống nhất di cư đến Thái Lan, đã nhanh chóng hòa nhập với đời sống văn hóa địa phương người Thái.
Nền tảng văn hóa truyền thống bản địa và ý chí vươn lên của người Việt đã tạo nên ở họ một sắc thái văn hóa cộng sinh tuyệt vời. Phật giáo Việt tông Phật giáo Bắc tông của người Việt đã xuất hiện tại Thái Lan từ rất sớm. Hệ phái này được vua Chulalongkorn (vua Rama V) của Thái Lan công nhận và sắc phong với tên “Annamnikai” (อนัมนิกาย). “Annamnikai” (tên tiếng Thái: อนัมนิกาย, tiếng Pali: Annamnikāya, tiếng Việt: An Nam tông) là một hệ phái Phật giáo Thái Lan có nguồn gốc từ Phật giáo Bắc tông Việt Nam do những di dân người Việt mang đến Thái Lan vào cuối thời Vương quốc Thonburi tiếp đến là vào thời vua Rama V của triều đại Chakri, Vương quốc Rattanakosin.
Phật giáo “Annamnikai” bao gồm đoàn chư Tăng và sa-di xuất gia và hành đạo theo phái này ở Thái Lan, chứ không phải Phật giáo Bắc tông Việt Nam hay là đoàn chư Tăng của phái Bắc tông Việt Nam trên đất Việt Nam và Thái Lan hiện nay. 14 “An Nam” có nghĩa là đất nước Việt Nam thời xưa. “Nikāya”, trong Từ điển Pali-Anh, có hai ý nghĩa: giáo phái (tiếng Anh: sect, theo Từ điển “Concise Pali - English by A. Buddhadatta Mahathera”); bộ kinh (tiếng Anh: the collection of Buddhist Sutras, theo Từ điển “The Pali Text Society’s Pali - English”) (Từ điển Pali, theravada.
Ở đây, “nikāya” nghĩa là giáo phái nên “Annamnikai” hay Annamnikāya có nghĩa là giáo phái của An Nam (Việt Nam hiện nay), tức “An Nam tông” hay “Việt tông” theo cách gọi của một số người Việt. Về vấn đề danh xưng, “An Nam” là tên được Trung Quốc sử dụng để gọi Việt Nam thời Bắc thuộc lần thứ ba (năm 679-866). Tên này mang hàm ý là “dẹp yên phương Nam” hay “phương Nam yên bình”. Dù Việt Nam đã được độc lập, các vị vua Việt Nam vẫn theo chế độ sắc phong của Trung Quốc.
Đến thời Lý, vua Lý Anh Tông là vị vua đầu tiền nhận chức “An Nam Quốc vương”. Từ đó, tên An Nam được sử dụng để gọi đất nước Việt Nam. Cho đến năm 1804, thời vua Gia Long, quốc hiệu Việt Nam được sử dụng. (Phan Huy Lê, 2018, tr.
799-807) Trong khi đó, tên nước “An Nam Quốc” thường được sử dụng trong bang giao với Trung Quốc và các quốc gia khác. Ngoài ra, thời Pháp thuộc, đất nước “Việt Nam” bị chia thành ba miền: Tonkin (Bắc Kỳ), Annam (Trung Kỳ), Cochinchine (Nam Kỳ) cùng với Lào và Campuchia lập thành Đông Dương. Ít nhất trước năm 1945, cách dùng tên gọi “Annam” cũng ảnh hưởng đến cách gọi của người nước ngoài, trong đó có Thái Lan, khi nói đến người Việt hay đất nước Việt Nam. Vì vậy, Phật giáo của di dân người Việt mang đến Thái Lan đã được nhà vua Thái Lan thừa nhận là An Nam tông, sau này được vua Rama V công nhận và sắc phong với tên tiếng Thái “Annamnikai” (อนัมนิกาย).
Tuy nhiên, tên “Annamnikai” là cách gọi mang tính học thuật và hành chính. Tại Thái Lan, từ “Annam” không có hàm ý miệt thị, chỉ thuần túy là cách gọi dùng cho người Việt cũng như “Xiêm” (Siam, phiên âm: xa-dảm) là cách gọi Thái Lan của người Việt. Tuy nhiên, do liên quan đến vấn đề hàm ý của danh xưng “An Nam”, trong luận văn này, chúng tôi xin chọn cách gọi Phật giáo Bắc tông của người Việt tại Thái Lan là “Phật giáo Việt tông”, ngoại trừ những từ được trích dẫn theo sử sách hay tên gọi cụ thể. Các lý thuyết nghiên cứu 1.
Thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa (Acculturation) Giao lưu và tiếp biến văn hóa là quá trình tiếp thu và biến đổi văn hóa của một người hoặc một nhóm văn hóa thông qua sự tiếp xúc giữa các nền văn hóa khác nhau và có mối quan hệ trao đổi văn hóa lẫn nhau. Quá trình này dẫn đến sự thay đổi truyền thống văn hóa và tạo nên nét văn hóa mới của riêng mình. Thuyết này được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực khoa học xã hội do John Wesley Powell vào năm 1880 tại Hoa Kỳ (Mỹ) đề xuất. Trong một báo cáo cho Cục Dân tộc học Hoa kỳ, J.
Powell cho rằng tiếp biến văn hóa là những thay đổi tâm lý của con người thông qua việc trao đổi các yếu tố văn hóa của các nền văn hóa khác nhau, đồng thời, mỗi người vẫn giữ được nét văn hóa đặc thù của riêng mình. Đến đầu thế kỷ XX, tiếp biến văn hóa đã trở thành trọng tâm của các nhà xã hội học Mỹ như: W. Thomas, Florian Znaniecki, Robert E. Park và Ernest W.
Họ sử dụng thuyết này để nghiên cứu quá trình tiếp biến văn hóa của người nhập cư và các nhóm văn hóa khác nhau trong xã hội Mỹ.