Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ DAO CUA DANG VE GIAO LƯU VÀ HỢP TÁC VAN HÓA CUA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á TỪ NĂM 1995 ĐÉN NĂM 2006 1. Những yếu tố tác động đến giao lưu, hợp tác văn hóa của Việt Nam với các nước Đông Nam Á và chủ trương của Đảng 1. Những yếu tô tác động đến giao lưu, hợp tác văn hóa của Việt Nam với các nước Đông Nam Á Tình hình quốc tế Cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, thế giới nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng đều có những chuyền biến lớn. Trật tự thế giới “Hai cực lanta” vẫn còn tồn tại, song các nước tư bản chủ nghĩa từng bước phục hồi và tăng trưởng về kinh tế, phát triển khoa học - công nghệ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1973, ngược lại các nước xã hội chủ nghĩa dần rơi vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế - xã hội tram trọng.
Chiến tranh lạnh về cơ bản đã chấm dứt vào năm 1989 với sự tuyên bố của hai nhà lãnh đạo Liên Xô và Mỹ, và thật sự chấm dứt khi Chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đồ vào năm 1991. Trật tự thế giới chuyền từ “hai cực” sang “đa cực” với nhiều trung tâm. Quan hệ quốc tế, nhất là quan hệ giữa các nước lớn chuyên dần từ đối đầu sang đối thoại. Một thời kỳ mới đã mở ra, đó là thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa, các quốc gia có điều kiện thuận lợi dé tìm hiểu về nhau, cùng hợp tác và phát triển.
Sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ với sự ra đời và phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và mạng lưới Internet đã lan rộng ra toàn cầu. Điều đó làm nảy sinh nhu cầu giao lưu, hợp tác, trao đổi thông tin giữa các quốc gia trên thé giới. Từ đó thúc day sự phát triển của giao lưu trao đổi toàn diện các mặt của đời sông xã hội, trong đó có nhu câu về giao lưu, hợp tác vê văn hóa. 14 Gắn liền với cuộc cách mạng mới trong khoa học - công nghệ, những năm cuối thé ky XX, “xu thé toàn cầu hóa mà cốt lõi là toàn cầu hoá kinh tế tác động hang ngày, hàng giờ đến mọi hoạt động và các mối quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc” [7.
“Toan cầu hóa trước hết và chủ yếu là toàn cầu hóa kinh tế. Toàn cầu hóa kinh tế là sự dich chuyền tự do các yếu tố của quá trình tái sản xuất từ nước này sang nước khác trên phạm vi toàn cầu. Các dòng hàng hóa, dịch vụ, kỹ thuật, vốn, nguồn nhân lực,. ngày càng vượt qua biên giới quốc gia, lưu thông trên phạm vi toàn cầu ngày càng tự do hơn.
Sự liên kết chặt chẽ về kinh tế của các nước trên thế giới thành các luồng phân phối lưu thông, các nguồn lực kinh tế toàn cầu, hình thành mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, kết nói thế giới”. Nền kinh tế các nước trên thế giới ngày càng mở cửa và hội nhập, ảnh hưởng và chế ước lẫn nhau; hình thành các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương. Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành xu thế khách quan. “Xu thế toàn cầu hóa ngày càng gia tăng cả về bề rộng và chiều sâu do sự tác động mạnh mẽ của các nhân tô như: i) Sự tác động trực tiếp của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ; ii) Sự chi phối mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia (TNC); iii) Các tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),.
đóng vai trò thúc day tiến trình toàn cầu hóa” [89, tr. “Với sức mạnh vốn có của mình, toàn cầu hóa đã tạo ra những mối liên kết, gan bó giữa các nền kinh tế, thúc đây sự phát triển khoa học và chuyền giao công nghệ, mở rộng thị trường trao đôi hàng hóa, thúc day phân công lao động va giao lưu văn hóa. Thế giới dần xích lại gần nhau hơn, nhưng dé hiểu và có thé tin tưởng hợp tác thì văn hóa chính là cầu nối dé đưa các dân tộc xích gần lại nhau, thấu hiểu nhau hơn, trên cơ sở đó đưa ra những nguyên tắc dé hợp tác cùng nhau trên một nền tang chung vững chắc. Điển hình cho van dé này, năm 1987, UNESCO đã tổ chức phat động phong trào thập niên xây dựng và phát triển văn hóa thé giới.
Day là điều kiện rat thuận lợi để các nước trên thế giới mở rộng giao lưu, hợp tác về văn hóa, qua đó thấu hiểu nhau hơn, tôn trọng sự khác biệt về văn hóa, coi trọng sự đa dạng văn hóa như là một điều kiện để cùng tồn tại trong hòa bình, cùng nhau bảo vệ và thúc day sự phát 15 triển văn hóa của nhân loại. Trong xu hướng đó có các quốc gia Đông Nam Á đã tăng cường giao lưu, hợp tác về văn hóa và đây cũng là thời điểm mà Việt Nam cũng đây mạnh các hoạt động nay với các nước láng giéng, khu vực và quốc tế. Ở Đông Nam Á, tình trạng suy thoái kinh tế đặc biệt là sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính - tiền tệ năm 1997 - 1998, bắt nguồn từ Thái Lan đã làm mất cân đối cơ câu kinh tế và tình trang tài chính - thương mai ở các nước trong khu vực. Kinh tế của nhiều nước đã lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng: theo báo cáo tình hình thế giới và công tác đối ngoại, năm 2001, “tăng trưởng GDP của Singapore là -3%, Malaysia là 1%, Thái Lan là 1,5%, Philippin là 2,5%, Inđônêxia là 3%” [4, tr.
Về mặt chính trị, các nước trong khu vực Đông Nam Á thường xảy ra các hoạt động bạo lực vũ trang, các xung đột tôn giáo. Ở Malaysia có hoạt động nhóm bạo lực Kumpulan Mujahideen Malaysia, ở Philippin có nhóm vũ trang Abu Sayyaf, ở Thái Lan có tổ chức giải phóng thống nhất Patani. Sau sự kiện ngày 11/09/2001 ở Mỹ, khu vực Đông Nam Á được trở thành nơi lánh nạn của tô chức Al-Qaeda. Các thành viên của tổ chức này ngày một lớn mạnh, đã gây ra những vụ khủng bố đẫm máu tại Inđônêxia, đánh bom vào khách sạn Marriot của Jakarta.
Trong những năm 2004 - 2005 đã liên tiếp có nhiều cuộc đụng độ đẫm máu đã xảy ra giữa chiến binh Hồi giáo với cảnh sát ở Thái Lan, Philippin và Malaysia. Cùng với xu hướng chung của tình hình thế giới, ở khu vực Đông Nam Á cũng dần hình thành xu hướng hội nhập, hợp tác để cùng nhau phát triển, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học và công nghệ đã tạo ra những điều kiện thuận lợi dé các quốc gia Đông Nam A mở rộng sự giao lưu và trao đổi văn hóa với nhau. Mặt khác, các quốc gia Đông Nam A muốn xây dựng một môi trường hòa bình, ổn định tin tưởng nhau thì buộc phải thấu hiểu nhau. Và nhân tố mở đường cho quá trình xác lập niềm tin dé hợp tác chính là cầu nối văn hóa.
Các quốc gia cần phải hiểu được văn hóa, bản sắc riêng của các nước láng giềng và khu vực, bởi văn hóa là cái hồn của mỗi dân tộc, văn hóa thể hiện bản lĩnh quốc gia, thé hién su riéng biét, su coi md của mỗi dân tộc. Văn hóa cũng chính là nhân tố thuận lợi nhất dé các quốc gia xoa dịu và hòa giải những bat đồng, tạo ra sự hòa đồng đề hội nhập với nhau. 16 Chính bởi văn hóa là cái hồn cốt của mỗi quốc gia dân tộc nên ở mỗi quốc gia sẽ có những đặc trưng riêng biệt, những khác biệt này vừa có ưu điểm là tạo nên sự đa dạng trong khu vực Đông Nam Á song nó cũng tạo ra những thách thức không nhỏ, thậm chí là nguyên nhân của những bất đồng, xung đột trong quá trình giao lưu và hợp tác. Tat cả những sự biến động của tình hình thế giới và khu vực đã có những ảnh hưởng to lớn và sâu sac đến van đề mở rộng các mối quan hệ giao lưu văn hóa của Việt Nam với các nước Đông Nam A trong thời kỳ đổi mới đất nước và các quan điểm, chủ trương của Dang Cộng sản Việt Nam về van đề này.
Tình hình Việt Nam Với chiến thắng vang dội của cuộc Tổng tiễn công và nồi day Xuân năm 1975, Việt Nam đã giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước, non sông thu về một mối là thời cơ mới thuận lợi để Việt Nam xây dựng và phát triển đất nước. Quân và dân ta đã chiến thắng dé quốc Mỹ, nhưng sự tàn phá của chiến tranh va những hậu quả mà cuộc chiến ác liệt dé lại không hề nhỏ. Sau chiến thắng, cả nước bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục, phát triển sản xuất. Lúc này trong xã hội Việt Nam ton tại 2 luồng văn hóa, một luồng văn hóa cũ, văn hóa phong kiến thực dân tư bản chủ nghĩa, và luồng văn hóa mới xã hội chủ nghĩa.
Hậu quả nặng nề của cuộc chiến chống Mỹ chưa được khôi phục, sự đối đầu giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch thực hiện chính sách bao vây cấm vận nước ta trong một giai đoạn dài. Hơn nữa, các nước ở trong khu vực cũng thực hiện các cuộc chiến tranh biên giới dọc lãnh thé Việt Nam. Những biến cố đó làm cho Việt Nam rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tram trọng trong suốt thập kỷ 80. Khủng hoảng khiến cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân bị ảnh hưởng đã khó khăn lại càng trở nên khó khăn hơn.
Từ đó cũng có những tác động không nhỏ đến sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa - nền tảng tinh thần của xã hội. Sự khủng hoảng của kinh tế - xã hội đã làm cho nhiều hoạt động văn hóa của xã hội bị trì hoãn, không được tích lũy và mở rộng.