Tổng quan luận án

Luận án Tiến sĩ Sử học với đề tài "Giáo dục và khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592" được nghiên cứu sinh Phan Đăng Thuận thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số 9.13, bảo vệ năm 2023), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Duy Mền và GS.TS Đinh Khắc Thuân.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Lịch sử Đại Việt giai đoạn 1527 - 1592 là thời kỳ tồn tại song song hai chính quyền đối lập là nhà Mạc (Bắc triều) và nhà Lê Trung hưng (Nam triều). Để xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền, cả hai thế lực đều coi trọng việc thu phục kẻ sĩ, đào tạo và tuyển chọn nhân tài thông qua thi cử Nho học. Trong 65 năm trị vì tại Thăng Long, nhà Mạc đã tổ chức 22 khoa thi, tuyển chọn 483 Tiến sĩ (với nhiều tên tuổi như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giáp Hải, Bùi Vịnh). Ở phía Nam, triều Lê Trung hưng tổ chức 7 khoa thi (gồm 3 kỳ Chế khoa), tuyển chọn 45 Tiến sĩ (tiêu biểu như Đinh Bạt Tụy, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Văn Giai).

Về mặt học thuật, các nghiên cứu trước đây về giáo dục và khoa cử thời Mạc mới chỉ dừng lại ở các bài báo hoặc chương mục khái quát, chưa có công trình chuyên khảo nghiên cứu độc lập, toàn diện. Đồng thời, giáo dục và khoa cử nhà Lê Trung hưng trong giai đoạn đóng đô ở Thanh Hóa - Nghệ An (1554 - 1592) vẫn còn nhiều khoảng trống tư liệu chưa được làm rõ. Việc nghiên cứu đối sánh đồng đại giữa hai hệ thống giáo dục khoa cử của Bắc triều và Nam triều trong giai đoạn này là yêu cầu thực tiễn cần được giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ tình hình tổ chức giáo dục và khoa cử Nho học của cả nhà Mạc lẫn nhà Lê Trung hưng từ năm 1527 đến năm 1592, qua đó đánh giá những đóng góp của tầng lớp trí thức Nho học đối với tiến trình lịch sử dân tộc.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích bối cảnh lịch sử và tác động của tình hình chính trị - xã hội Đại Việt (1527 - 1592) đối với giáo dục và khoa cử.
  2. Trình bày mục tiêu, chính sách giáo dục, hệ thống trường lớp (trường công, trường tư từ trung ương đến địa phương), chương trình và tài liệu học tập của cả hai chính quyền để chỉ ra sự tương đồng và dị biệt.
  3. Phân tích thể lệ thi cử, quy trình tổ chức các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình, Chế khoa của nhà Mạc và nhà Lê Trung hưng.
  4. Đánh giá thành tựu, hạn chế của giáo dục khoa cử giai đoạn này; khảo sát sự bổ dụng quan lại và đóng góp của các vị đại khoa trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa và giáo dục.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt giai đoạn 1527 - 1592, cùng vai trò và đóng góp của đội ngũ trí thức Nho học được tuyển chọn qua khoa cử đối với xã hội (không bao gồm võ cử).
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1527 (khi Mạc Đăng Dung thành lập vương triều Mạc) đến năm 1592 (khi nhà Mạc rút khỏi Thăng Long, kết thúc giai đoạn trị vì tại kinh đô và chấm dứt cục diện Nam - Bắc triều tại Thăng Long).
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Đại Việt thời bấy giờ, bao gồm vùng đất do nhà Mạc kiểm soát (từ Ninh Bình trở ra Bắc, ngoại trừ Tuyên Quang do hạn chế tư liệu) và vùng đất do nhà Lê Trung hưng kiểm soát (từ Thanh Hóa trở vào phía Nam, bao gồm khu vực Thuận - Quảng được kiểm soát ổn định từ sau năm 1572).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước

Luận án tiến hành phân loại và điểm luận có hệ thống các nguồn tư liệu và công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm:

  • Nguồn sử liệu và thư tịch cổ trong nước:

    • Sách Đăng khoa lục và địa phương chí: Nhóm sách Đăng khoa lục thời Lê Trung hưng (Lịch đại đại khoa lục, Đại Việt lịch triều đăng khoa lục, Đăng khoa lục sưu giảng, Liệt huyện Đăng khoa lục của Phan Huy Ôn và Phan Huy Sảng); các tài liệu khoa lục địa phương (Thu tỷ đề danh ký của Hội Tư văn Thanh Hóa, Quảng Bình khoa lục, Từ Liêm huyện đăng khoa chí của Bùi Xuân Nghi, Phượng Dực đăng khoa lục của Đinh Danh Bá, Đại Đồng tổng lịch triều hương hội khoa lục của Nguyễn Thế Cát, Đông Yên nhị huyện khoa lục phổ, Hà Tĩnh nhân vật chí, Hà Tĩnh tập biên, Thanh Chương huyện chí, Ô Châu cận lục của Dương Văn An).
    • Bộ chính sử và tác phẩm tổng hợp: Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên và các sử thần), Đại Việt thông sử và Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn), Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), tác phẩm diễn ca lịch sử Việt sử diễn âm, Mạc sử diễn âm.
    • Văn bia và gia phả dòng họ: 8 văn bia Tiến sĩ lưu giữ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội (gồm bia khoa thi năm 1529 thời Mạc và 7 văn bia Chế khoa, thi Hội thời Lê Trung hưng tổ chức ở Thanh Hóa); 184 văn bia thời Mạc được GS.TS Đinh Khắc Thuân và tác giả sưu tầm; cùng hệ thống gia phả dòng họ (Đại Nam Kinh Bắc trấn Dương Thị thế phả, Dương tộc gia phả họ Dương ở Lạc Đạo; gia phả họ Bùi ở Thượng Trưng; gia phả họ Đinh ở Hưng Trung; Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích; Lê thị gia phả sự tích ký ở Mộ Trạch; gia phả họ Ngô ở Tam Sơn; gia phả họ Lưu ở Thái Hưng).
  • Nguồn thư tịch cổ Trung Quốc:

    • Minh thực lục, Minh sử, Thù vực chu tư lục (Nghiêm Tòng Giản), Việt kiệu thư (Lý Văn Phượng, 1540), Hoàng Minh chiếu lệnh, An Nam lai uy đồ sách, Đông Tây dương khảo, Mạc Mậu Hợp liệt truyện.
  • Các công trình chuyên khảo, bài báo và đề tài khoa học trong nước:

    • Sách chuyên khảo về giáo dục khoa cử của Vũ Ngọc Khánh (1985), Đàm Văn Chí (1992), Ngô Đức Thọ (1993, 2006), Nguyễn Thế Long (1995), Đỗ Văn Ninh (1995, 2000), Nguyễn Q. Thắng (2005), Đinh Khắc Thuân (2001, 2009), Vũ Huy Thuận (2009), Tạ Đức Tú (2011), Đặng Kim Ngọc (2011), Nguyễn Thị Hường (2013), Đinh Văn Niêm (2014), Đỗ Thị Hương Thảo (2016), Vũ Duy Mền (2020), Nguyễn Thúy Nga (2019), Đinh Thanh Hiếu (2021).
    • Bài viết trên tạp chí và kỷ yếu hội thảo của Lê Văn Lan (1994, 1996), Nguyễn Hữu Tâm (1991, 1996, 2016, 2019), Nguyễn Đức Nhuệ (1994), Nguyễn Tuấn Thịnh (1994), Nguyễn Minh Tường (1994), Đinh Khắc Thuân (2008), Tô Ngọc Hằng (2011), Phạm Thị Quỳnh (2011), Nguyễn Hoài Văn (2013), Nguyễn Hiền Lương (2015), Nguyễn Phúc Anh (2012), Trần Thị Vinh (2015, 2019), Trịnh Thị Hà (2018).
    • Luận án, luận văn của Nguyễn Văn Thịnh (1996), Phạm Thị Quỳnh (2013), Tô Ngọc Hằng (2011), Trịnh Thị Hà (2019), cùng các luận văn nghiên cứu địa phương của Thái Bá Quý (2006), Đặng Thị Nhàn (2007), Nguyễn Thị Lài (2010), Lê Thị Hà (2010), Vũ Thị Hạnh (2016).
  • Nghiên cứu của học giả nước ngoài:

    • Công trình nghiên cứu của Vương Giới Nam (1998), Trần Văn (2015), GS. Michael Friedrich, TS. Yoshikawa Kazuki, GS. Kathlene Baldanza, GS. Hứa Di Linh, GS. Trần Ích Nguyên, GS. Teiji Kosukegawa, GS. Tưởng Vi Văn tại các diễn đàn học thuật quốc tế.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy các công trình trước đây tồn tại một số điểm khuyết:

  • Số liệu về số lượng Tiến sĩ đỗ đạt dưới thời Mạc giữa các tài liệu sử học và công trình nghiên cứu chưa có sự thống nhất đồng bộ.
  • Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện hệ thống trường lớp (trường công lập và trường tư thục) của giai đoạn 1527 - 1592.
  • Các nghiên cứu phần lớn tách rời hoặc chỉ khảo sát riêng triều Mạc hoặc nhà Lê Trung hưng, thiếu một công trình đặt giáo dục và khoa cử của hai vương triều trong một thể thống nhất và so sánh đối chiếu trực tiếp.
  • Luận án lựa chọn giải quyết trọn vẹn các khoảng trống này bằng cách khai thác nguồn tư liệu Hán Nôm gốc, khảo sát điền dã và thống kê chi tiết việc bổ dụng chức quan của đội ngũ đại khoa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận

Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử:

  • Phương pháp duy vật biện chứng: Xem xét mối quan hệ tác động qua lại giữa bối cảnh chính trị - xã hội phân tranh thời Nam - Bắc triều với nhu cầu đào tạo nhân tài; từ đó lý giải chính sách giáo dục, thể chế khoa cử và sự đóng góp của đội ngũ trí thức đối với vương triều và đất nước.
  • Phương pháp duy vật lịch sử: Đặt sự phát triển của giáo dục và khoa cử Đại Việt giai đoạn 1527 - 1592 trong tiến trình vận động liên tục của lịch sử dân tộc, kế thừa các thành tựu của thời Lê sơ, đồng thời chỉ ra những chuyển biến mang tính đặc thù của thời kỳ này.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  1. Phương pháp lịch sử: Tái hiện các sự kiện, thể chế giáo dục, quá trình tổ chức các kỳ thi cử của nhà Mạc và nhà Lê Trung hưng theo trình tự thời gian khách quan; theo dõi sự biến đổi của Quốc Tử Giám, chế độ giáo quan, quy chế thi cử.
  2. Phương pháp logic: Phân tích bản chất, quy luật vận động của hệ thống giáo dục, mối quan hệ giữa chính sách của nhà nước với việc tuyển dụng, bổ nhiệm quan lại và hiệu quả thực tế của đội ngũ trí thức Nho học.
  3. Phương pháp thống kê và so sánh: Thiết lập các bảng biểu dữ liệu về số lượng khoa thi, số người đỗ đạt, phân bố địa bàn thí sinh đỗ đạt, tỷ lệ phân bổ thứ hạng và cơ cấu bổ dụng chức quan; so sánh đối chiếu giữa Bắc triều và Nam triều để chỉ ra điểm tương đồng và dị biệt.
  4. Phương pháp điền dã: Tiến hành khảo sát thực địa tại các địa phương: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa nhằm thu thập, đối chiếu văn bia, sắc phong, gia phả dòng họ.
  5. Phương pháp bổ trợ: Sử dụng phương pháp giám định văn bản học Hán Nôm và phương pháp chuyên gia.

Nguồn tư liệu sử dụng

Nguồn dữ liệu chính của luận án gồm: hệ thống chính sử biên niên (Toàn thư, Thông sử, Cương mục); các bộ Đăng khoa lục toàn quốc và địa phương; 8 văn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu Thăng Long; 184 văn bia thời Mạc; tư liệu thư tịch Trung Quốc thế kỷ XVI; hệ thống gia phả, sắc phong của các dòng họ khoa bảng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nguồn tư liệu và tình hình nghiên cứu

Chương 1 phân tích toàn diện hai khối nguồn tư liệu trong nước và Trung Quốc, đồng thời điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về giáo dục khoa cử Nho học. Tác giả chỉ ra rằng nguồn tư liệu Hán Nôm (đặc biệt là văn bia và gia phả dòng họ) là nguồn sử liệu gốc có độ tin cậy cao, giúp đính chính các nhầm lẫn về niên đại, tên tuổi và số lượng người đỗ đạt trong các bộ sử biên niên. Chương này xác định rõ mục tiêu bổ khuyết những vấn đề học thuật mà các công trình trước chưa giải quyết trọn vẹn.

Chương 2: Giáo dục Nho học Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592

Nội dung chương 2 tập trung vào bối cảnh xã hội, chính sách và cơ cấu hệ thống giáo dục:

  • Bối cảnh xã hội: Phân tích cuộc khủng hoảng cung đình cuối thời Lê sơ (các triều vua Uy Mục, Tương Dực, Chiêu Tông), sự trỗi dậy của Mạc Đăng Dung lập ra triều Mạc năm 1527 và sự hình thành cục diện Nam - Bắc triều từ năm 1533.
  • Chính sách giáo dục: Cả nhà Mạc và nhà Lê Trung hưng đều lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống, đề cao Nho học để đào tạo nhân tài phục vụ chính quyền. Năm 1537, Mạc Thái Tông cho trùng tu Quốc Tử Giám Thăng Long và mùa xuân năm Đinh Dậu (1537) đích thân làm lễ Thích điện tế Tiên thánh (Chu Công), Tiên sư (Khổng Tử).
  • Quy định đạo đức thầy - trò: Bộ luật Hồng Đức thiện chính thư thời Mạc quy định nghiêm ngặt bổn phận tôn kính thầy. Điều 119 quy định: Kẻ nào khinh nhờn thầy giáo bị phạt 50 quan tiền; đánh chửi thầy bị phạt thêm 15 quan và xử phạt 80 trượng (với quy đổi đương thời 1 mẫu ruộng có giá 30 quan tiền).
  • Hệ thống trường công:
    • Ở Trung ương: Nhà Mạc duy trì Quốc Tử Giám Thăng Long và xây dựng một trung tâm giáo dục quy mô quốc gia tại Dương Kinh (Cổ Trai, Kiến Thụy, Hải Phòng).
    • Ở địa phương: Hệ thống trường học tại các phủ, huyện, đạo tiếp tục hoạt động dưới sự phụ trách của các học quan (Giáo thụ, Huấn đạo).
  • Giáo dục tư nhân: Đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì việc học tập trong dân gian, tiêu biểu là các trường lớp của các bậc danh nho: trường của Nguyễn Bỉnh Khiêm (tại Bạch Am, Hải Dương), trường của Trần Bảo, trường của Dương Phúc Tư, trường của Nguyễn Khắc Kính, trường của Nguyễn Sư Lộ, trường của Phùng Khắc Khoan.
  • Tài liệu học tập: Tiếp tục duy trì hệ thống sách kinh điển Nho gia gồm Tứ thư, Ngũ kinh, cùng các sách tra cứu lịch sử, văn thể như Ngọc đường văn phạm, Văn hiến thông khảo, Văn tuyển, Cương mục, Bắc sử.

Chương 3: Khoa cử Nho học Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592

Chương 3 khảo sát chi tiết thể lệ thi cử, quy trình tổ chức và số liệu đỗ đạt của hai triều đại:

  • Khoa cử triều Mạc: Duy trì đều đặn chế độ thi cử 3 năm một lần theo định chế thời Lê sơ. Trong 65 năm (1529 - 1592), nhà Mạc đã tổ chức 22 khoa thi Hội và thi Đình, lấy đỗ 483 Tiến sĩ. Đáng chú ý, ngay cả trong năm 1592 khi chiến sự diễn ra ác liệt sát kinh thành, triều Mạc vẫn tổ chức khoa thi cuối cùng tại Thăng Long.
  • Khoa cử triều Lê Trung hưng: Trong giai đoạn đóng tại Thanh Hóa (1554 - 1592), nhà Lê Trung hưng đã tổ chức 7 khoa thi tại hành cung Vạn Lại, lấy đỗ 45 Tiến sĩ, bao gồm 3 kỳ Chế khoa (năm 1554, 1565, 1577) và 4 khoa thi Hội (năm 1580, 1583, 1589, 1592).
  • Chính sách đãi ngộ: Cả hai triều đình đều thực hiện các nghi thức ban yến, cấp cờ áo, cấp ngựa vinh quy bái tổ, dựng bia đá đề danh tại Văn Miếu và bổ dụng người đỗ đạt vào các chức vụ trong bộ máy hành chính trung ương và địa phương.

Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ số cơ bản về khoa cử giữa hai chính quyền giai đoạn 1527 - 1592 theo số liệu của luận án:

Tiêu chí so sánh Khoa cử triều Mạc (Bắc triều) Khoa cử triều Lê Trung hưng (Nam triều)
Thời gian tổ chức 1529 – 1592 1554 – 1592
Địa điểm tổ chức Kinh thành Thăng Long Hành cung Vạn Lại (Thanh Hóa)
Tổng số khoa thi 22 khoa thi 7 khoa thi (3 Chế khoa, 4 thi Hội)
Tổng số Tiến sĩ đỗ đạt 483 Tiến sĩ 45 Tiến sĩ
Tần suất tổ chức thi Đều đặn 3 năm/kỳ Không đều, phụ thuộc vào cục diện chiến sự
Khảo hạch học vị cao nhất Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa Đệ nhất giáp Chế khoa xuất thân, Hoàng giáp
Văn bia Tiến sĩ ghi nhận 1 bia tại Thăng Long (1529) và văn khắc địa phương 7 bia tại Văn Miếu Thăng Long (dựng lại sau năm 1592)

Chương 4: Thành tựu và hạn chế của giáo dục khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592

Chương 4 đúc kết các kết quả thực tế của giáo dục khoa cử:

  • Đào tạo đội ngũ trí thức và bổ dụng quan lại: Tuyển chọn được lực lượng trí thức Nho học đông đảo, kịp thời bổ sung vào các cơ quan hành chính từ Trung ương (Lục bộ, Hàn lâm viện, Ngự sử đài) đến các địa phương.
  • Đóng góp của các danh nhân khoa bảng: Luận án làm rõ công trạng của các danh nho đại khoa tiêu biểu như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giáp Hải, Bùi Vịnh (thời Mạc); Đinh Bạt Tụy, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Văn Giai (thời Lê Trung hưng) trong các công tác ngoại giao, định chế luật lệ, ổn định xã hội và phát triển văn hóa.
  • Duy trì truyền thống hiếu học và làng/dòng họ khoa bảng: Khảo sát các dòng họ khoa bảng tiêu biểu (họ Dương ở Lạc Đạo, họ Vũ ở Mộ Trạch, họ Bùi ở Thượng Trưng, họ Đinh ở Hưng Trung, họ Ngô ở Tam Sơn) và các làng khoa bảng nổi tiếng (tiêu biểu như làng Mộ Trạch).
  • Hạn chế: Nội dung giáo dục Nho học mang nặng tính kinh viện, tầm chương trích cú, thiếu vắng kiến thức khoa học tự nhiên và kỹ thuật thực nghiệm; tình trạng chiến tranh Nam - Bắc triều làm cản trở việc học tập liên tục ở các vùng xảy ra giao tranh.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt khoa học và lý luận:

    • Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu đầu tiên khảo sát toàn diện giáo dục và khoa cử Đại Việt giai đoạn 1527 - 1592 trên phạm vi cả nước.
    • Làm rõ sự vận động của giáo dục Nho học trong bối cảnh phân liệt chính trị, chứng minh Nho giáo vẫn giữ vị thế độc tôn đối với cả Bắc triều và Nam triều trong việc đào tạo đội ngũ quản lý nhà nước.
    • Xác lập bức tranh đồng đại, đối sánh rõ nét về thể chế giáo dục, quy mô trường lớp, thể lệ thi cử và chính sách sử dụng trí thức của nhà Mạc và nhà Lê Trung hưng.
  2. Về mặt thực tiễn và tư liệu:

    • Hệ thống hóa, xử lý và đính chính các nguồn tư liệu Hán Nôm có độ xác thực cao, bao gồm 184 văn bia thời Mạc, 8 văn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu, các bản Đăng khoa lục và hàng chục bộ gia phả dòng họ.
    • Thống kê chi tiết danh sách 483 Tiến sĩ thời Mạc qua 22 khoa thi và 45 Tiến sĩ triều Lê Trung hưng qua 7 khoa thi, kèm theo phân bố địa lý và tỷ lệ bổ dụng chức quan.
    • Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá khách quan về những đóng góp của vương triều Mạc và triều Lê buổi đầu trung hưng đối với lịch sử giáo dục truyền thống của dân tộc.
  3. Bài học kinh nghiệm thực tiễn:

    • Rút ra bài học lịch sử về việc coi trọng hiền tài, phương thức tuyển chọn cán bộ qua thi cử công minh và chính sách đãi ngộ, sử dụng nhân tài đúng năng lực để phục vụ quản lý đất nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn tư liệu thành văn còn thiếu hụt, luận án chưa khảo sát sâu tình hình giáo dục Nho học tại vùng Tuyên Quang (khu vực cát cứ của anh em họ Vũ không chịu sự quản lý của nhà Mạc). Đồng thời, luận án chủ yếu tập trung vào khoa cử Nho học mà chưa đề cập đến mảng võ cử trong cùng giai đoạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng sưu tầm, khai thác thêm các văn khắc Hán Nôm và thần tích, gia phả ở các vùng miền núi, biên viễn.
    • Mở rộng hướng nghiên cứu sang chế độ thi cử võ nghiệp (võ cử) thời Nam - Bắc triều để hoàn thiện bức tranh toàn diện về tuyển chọn nhân tài quân sự thời trung đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lịch sử, Hán Nôm, Văn hóa học: Cung cấp phương pháp tiếp cận tư liệu văn bia, gia phả và cách thức xử lý số liệu khoa bảng trung đại.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên đề về lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI, lịch sử giáo dục và thể chế chính trị thời Nam - Bắc triều.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa dòng họ và địa phương học: Tham khảo các tư liệu gia phả, làng khoa bảng tại Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
  • Cơ quan quản lý giáo dục và nhân sự: Cung cấp góc nhìn lịch sử về chính sách trọng dụng và đãi ngộ nhân tài.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong giai đoạn 1527 - 1592, nhà Mạc và nhà Lê Trung hưng đã tổ chức bao nhiêu khoa thi và lấy đỗ bao nhiêu Tiến sĩ?
Trong giai đoạn này, nhà Mạc tổ chức đều đặn 22 khoa thi Hội và thi Đình tại Thăng Long, lấy đỗ 483 Tiến sĩ. Triều Lê Trung hưng trong thời gian đóng đô ở Thanh Hóa đã tổ chức 7 khoa thi (gồm 3 kỳ Chế khoa và 4 khoa thi Hội), lấy đỗ 45 Tiến sĩ.

2. Nhà Mạc có xây dựng trung tâm giáo dục nào ngoài Quốc Tử Giám Thăng Long không?
Bên cạnh việc tu sửa Quốc Tử Giám Thăng Long vào năm 1537, nhà Mạc đã xây dựng một trường học quy mô quốc gia tại Dương Kinh thuộc vùng Cổ Trai (nay thuộc xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng) để đào tạo nhân tài.

3. Bộ luật Hồng Đức thiện chính thư thời Mạc xử lý hành vi bất kính với thầy giáo như thế nào?
Theo Điều 119 của Hồng Đức thiện chính thư, học trò có hành vi khinh nhờn thầy giáo bị phạt 50 quan tiền; nếu đánh chửi thầy giáo thì tiền phạt tăng thêm 15 quan và phải chịu hình phạt đánh 80 trượng.

4. Nhà Lê Trung hưng đã tổ chức khoa thi đầu tiên vào năm nào và lấy đỗ những danh nhân tiêu biểu nào?
Nhà Lê Trung hưng tổ chức kỳ thi đầu tiên là Chế khoa năm Giáp Dần niên hiệu Thuận Bình thứ 6 (1554) tại hành cung Vạn Lại (Thanh Hóa), lấy đỗ các vị danh nho tiêu biểu, trong đó có Đinh Bạt Tụy. Sau đó, tại các khoa thi tiếp theo đã tuyển chọn thêm các danh sĩ như Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Văn Giai.

5. Giáo dục tư thục thời kỳ 1527 - 1592 có những đại diện tiêu biểu nào?
Hệ thống trường tư thục giai đoạn này rất phát triển với các lớp học của các thầy đồ làng và trường học của các danh nho nổi tiếng, tiêu biểu là trường của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Bảo, Dương Phúc Tư, Nguyễn Khắc Kính, Nguyễn Sư Lộ và Phùng Khắc Khoan.

Kết luận

Luận án "Giáo dục và khoa cử Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592" của nghiên cứu sinh Phan Đăng Thuận là công trình nghiên cứu sử học có hệ thống về thực trạng giáo dục và khoa cử thời Nam - Bắc triều. Thông qua việc khai thác khối lượng lớn tư liệu Hán Nôm gốc, đặc biệt là 184 văn bia thời Mạc và các bộ gia phả dòng họ, công trình đã làm sáng tỏ quy mô, chính sách và cơ chế vận hành của nền giáo dục Nho học ở cả hai chính quyền Mạc và Lê Trung hưng. Kết quả nghiên cứu khẳng định dù đất nước ở trong bối cảnh phân liệt chính trị, giáo dục khoa cử vẫn duy trì liên tục, đào tạo nên một đội ngũ trí thức Nho học có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của quốc gia. Công trình bổ sung nguồn tư liệu lịch sử xác thực, phục vụ hiệu quả cho công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử giáo dục Việt Nam thời trung đại.